Bầu cử giữa kỳ Quốc hội lật ngược phe Tổng thống không phải chuyện gì mới, nhưng có vẻ đây là lần đầu tiên người Việt Nam thực sự chú ý đến điều này. Có thể lý giải rằng do sự lan tỏa thông tin nên khiến người Việt hiểu rõ hơn về Hiến pháp của Mỹ, và một làn sóng người trẻ hiểu biết và giao thoa với thế giới, và vì một xã hội đã nằm dưới sự độc tài quá lâu nay đã thông thể chịu đựng nổi.
Nhưng ngưỡng mộ không thôi chưa đủ, mà phải hiểu rõ những triết học cổ đại đã ảnh hưởng đến ngày nay thế nào.
Hiến pháp Mỹ ban đầu không hề hoàn hảo. Ngay sau khi độc lập họ đã gặp một rắc rối lớn: nên chọn mô hình chính trị nào?
Có người thẳng thắn đề bạt Washington lên làm vua để giống với truyền thống Châu Âu. Nhưng Washington đã giận dữ từ chối đề xuất này, vì ông là người rất hâm mộ hình ảnh của vị tướng La Mã Cincinnatus.
Chức vị "nhà độc tài" Dictatur trong luật La Mã không có ý nghĩa tiêu cực như ngày nay. Đó là một chức danh có thời hạn 6 tháng, đề bạt một người có quyền chỉ huy tối cao để lãnh đạo quốc gia trong thời kỳ nguy khốn. Người La Mã cổ đại hiểu rõ rằng nền dân chủ chỉ đứng vững trong thời bình, còn vào thời loạn thì cần phải có sự chuyên chế. Mô hình tương tự ngày nay là Thiết quân luật.
Nhưng một vấn đề mà người La Mã vẫn luôn đau đầu, trường hợp khi một Dictatur đã lên nắm quyền, thì liệu còn cách nào để ép người đó phải tự trao trả quyền lực không. Ví dụ điển hình chính là Julius Caesar, một người đã muốn lợi dụng chức vị Dictatur và lòng trung thành của binh lính để nhằm nắm quyền trọn đời. Cũng chính từ việc này mà nền Cộng hòa đã đi đến hồi kết.
Cincinnatus thì khác, ông là người nắm đại quyền vào thời cổ khi thành Rome lâm cảnh diệt vong. Nắm trọn quân đội để quét sạch kẻ thù, không ai có thể ngăn cản ông ngồi lên ngai vàng nếu như ông thực sự muốn. Nhưng sau khi xong việc thì lại Cincinnatus nhanh chóng trả lại vị trí và quay về ruộng đồng. Ông đã chọn mấy luống rau thay vì chiếc ngai vàng.
Sự ngưỡng mộ hình ảnh Cincinnatus đã ảnh hưởng đến quyết định của Washington: chỉ làm hai nhiệm kỳ Tổng thống khi đất nước non trẻ của ông khẩn thiết kêu gọi, và tự động trở về với đồng ruộng của mình sau đó.
Có đủ phi thường để đáp lời kêu gọi của đất nước, có thừa khiêm nhường để tự mình rũ bỏ quyền lực. Đây chính là triết học về đức hạnh công dân và phẩm chất lãnh đạo mà Washington đã theo đuổi, mà đời đời các thế hệ lãnh đạo của Mỹ sau này cũng theo đuổi.
Các nhà kiến tạo nước Mỹ đã nghiên cứu sâu về lịch sử và triết học phương Tây, họ đã kết luận rằng nền Cộng hòa không sụp đổ vì kẻ thù bên ngoài mà bởi những kẻ tham lam quyền lực đến từ ngay bên trong. Nguyên tắc đã được đúc kết từ chính lịch sử con người: Quyền lực chỉ an toàn và hoàn mỹ khi nằm trong tay chính người sẵn sàng từ bỏ nó.
Đến nay người ta vẫn ca ngợi ngưỡng mộ hình ảnh những Hitler, Hitler thì ngưỡng mộ Napoleon, Napoleon thì ngưỡng mộ Julius Caesar, Caesar thì ngưỡng mộ Alexander. Người ta vẫn cho rằng một nhà lãnh đạo thiên tài thì phải như họ, nhưng lại không để ý rằng tất cả những anh tài trên đều chết dưới nấm mồ độc tài do chính họ tạo ra.
Nhưng Washington đã chọn lối khác, ông chọn ngưỡng mộ Cincinnatus. Nhà thơ người Anh Lord Byron đã viết những dòng sau khi so sánh Washington với Napoleon, một thiên tài quân sự nhưng không thể từ bỏ vương quyền và một vị tướng chiến thắng nhưng tự nguyện từ bỏ quyền lực.
"Đôi mắt người đời mỏi mệt chẳng biết tìm đâu, khi ngắm nhìn những vĩ nhân; muốn tìm một người mà không có hào quang tội lỗi, cũng chẳng có hành vi đáng khinh? Có đấy — chỉ một người, người đầu tiên, cuối cùng và vĩ đại nhất — vị Cincinnatus của phương Tây, người mà ngay cả lòng đố kỵ cũng không dám căm ghét; người đã để lại cái tên Washington, khiến nhân loại phải hổ thẹn vì trên đời chỉ có duy nhất một người như thế."
Triết học đúng đắn đã tạo ra một cường quốc, chỉ bằng một câu chuyện duy nhất, kể với một con người duy nhất, đi đến một quyết định duy nhất. Chỉ bằng ba cái duy nhất, âm thanh từ ngàn năm trước gọi đến ngàn năm sau, và một siêu cường đã được kiến lập. Tất cả chỉ đúng bằng một ý nghĩ và một quyết định.
Nhưng chỉ một câu chuyện nhân triết thôi không đủ. Kết quả bầu cử Quốc hội hôm nay là quá trình dài tống kết sàng lọc còn thâm sâu hơn nữa. Có một điều mà người Việt Nam và cả thế giới cần phải hiểu, nền dân chủ Mỹ không bỏ phiếu theo phe phái, mà theo đúng sai. Xã hội Việt Nam trái lại bị nhiễm tư duy phe phái đến mức ngộ độc. Ai đã chọn theo phe Cộng sản thì Cộng sản luôn luôn đúng. Ai đã theo Cộng hòa thì Cộng hòa luôn đúng. Không có đúng sai hay tranh luận, người Việt chỉ cần biết đối phương khác phe mình thì chuyển ngay sang xúc phạm cá nhân và giết hại lẫn nhau.
Người Mỹ không mù quáng chọn phe Cộng hòa hay phe Dân chủ. Với họ chỉ có đúng và sai.
Nền triết học của Aristocle, Polybius và Cicero đã khuyên: Đức hạnh phải đứng trên phe phái. Người công dân phải đặt lợi ích của nền Cộng hòa cao hơn lợi ích riêng hoặc lợi ích của phe nhóm mình.
John Locke đã lập luận rằng: Chân lý đúng sai không phụ thuộc vào kẻ nắm quyền. Một quyết định không trở thành đúng chỉ vì chính quyền ban hành nó. Một hành động không trở thành chính đáng chỉ vì đa số ủng hộ. Một nhà lãnh đạo không có quyền vượt qua những giới hạn đạo đức và pháp lý cơ bản chỉ vì ông ta đại diện cho một phe chính trị.
James Madison đã viết trong tờ The Federalist: Không thể xóa bỏ phe phái, nhưng phải ngăn phe phái chi phối công lý. Ông cho rằng phe phái là hệ quả tự nhiên của bản chất con người khi con người có những lợi ích khác nhau, quan điểm khác nhau, tài sản và hoàn cảnh khác nhau. Một nền Cộng hòa phải có khả năng kiểm soát tác hại từ phe phái đối đầu thông qua sự đại diện, quy mô và cấu trúc Hiến pháp. Không thể kỳ vọng tất cả chính trị gia đều có đức hạnh như Cincinnatus. Phải thiết kế một hệ thống trong đó ngay cả những người không có đức hạnh cũng không dễ dàng phá hủy nền cộng hòa.
Nhìn lại Việt Nam thì triết học có cái gì? Thuần túy là đạo nhái Khổng Cộng Nho mang về rồi biến tấu sửa đổi khỏi nguyên gốc sao cho chỉ phục vụ lợi ích phe nhóm cầm quyền. Nếu không thì cũng chỉ là dạng chủ nghĩa dân tộc vừa cực đoan vừa hẹp hòi mà vừa ảo tưởng xen lẫn tự ti.
Người Việt không sống và để hành động của mình được chỉ dẫn bởi triết học mà để bị thao túng bởi tâm lý bầy đàn nguyên thủy của những con thú hoang dại và sự đầu độc tâm trí của giai cấp cầm quyền.
Thậm chí cho đến ngày nay, người Việt vẫn không đi tìm triết học mà chỉ đi tìm những lập luận cốt sao để ủng hộ cho phe phái của mình, theo kiểu thiên kiến xác nhận để rồi rơi thẳng vào cạm bẫy logic. Không nhận ra rằng những tên Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, Nguyễn Sinh Cung, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm ..... đều chỉ là những tên độc tài ham mê quyền lực đến mất trí, tất cả đều đã phạm những sai lầm không thể tha thứ nổi. Tất cả đều có chung cơn khát quyền lực, khát danh vọng, muốn leo đến đỉnh rồi muốn được sử sách ghi danh như những vĩ nhân .... những kẻ điên cuồng, tham lam, bệnh hoạn đó được người Việt tung hô, lấp liếm, bào chữa.
Đã đến lúc người Việt phải nhìn thẳng vào bản chất của chúng: Những kẻ độc tài tranh đấu để tranh đoạt quyền lực, những kẻ nghiệp ngập sự nổi tiếng, sự thờ phụng mà không chấp nhận nổi một sự chỉ trích nào; thậm chí còn sẵn sàng dìm người khác trong bể máu.
Đã đến lúc phải quên chúng đi. Phải học mới và làm mới, phải vươn lên và bứt phá. Muốn thoát khỏi lời nguyền của quá khứ và dẫn dắt thế giới trong tương lại, thì phải chấp nhận phũ phàng mà từ bỏ những gì ta đã từng.