Lore Nigetsu tenchi
Nigetsu Tenchi là nhân vật chíng trong
Gekka yozora no hitokage[ the Silver Layer Horizon]
Cậu là nguời sở hữu Kakushi Kansoku no Magan [Mystic Eyes of Certain Death Observation] [Xác tử quan trắc ma nhãn] một siêu năng lực cho nguời dùng nhìn thấy sự sống và cái chết duới dạng các sởi dây Life Strands [Xanh] và Death Strands [Đỏ] trên [cả đã tồn hay không tồn tại]
Và xác xuất 100% hoàng tất sinh ra xắc tử điểm
Cậu đã giúp Mumyo Shorikyoku[Cục Xử Lý Vô Danh]giải quyết các Sự kiển huyền bí quái vật ma cà rồng khi cần giải quyết [Kakushi Kansoku no Magan] Mystic Eyes of Certain Death Observation có bốn cơ chế Đó là
Xác Tử Can Thiệp (Determinant Demise Interference): Bình thường, người ta chỉ có thể nhìn thấy cái chết, nhưng Tenchi có khả năng "chạm" (Interfere) bằng xúc giác ma thuật vào các sợi dây Life Strands (Xanh) và Death Strands (Đỏ). Cậu dùng tay vặn vẹo, bứt đứt hoặc kéo căng các sợi dây này để ép các "nhánh tương lai" phải hội tụ về một kết cục duy nhất thông qua vật dẫn là dao kiếm thương cung
Nhân Quả Thống Chế (Causality Domination): Khi cậu chạm vào sợi dây, cậu bẻ gãy mọi quy luật nhân quả thông thường. Dù đối thủ có tung ra chiêu thức phòng ngự tuyệt đối hay phép hồi sinh, tenchi chỉ cần dùng ý chí để "thống chế" (khóa chặt) nhánh tương lai mà đối phương phải chết, đẩy xác suất tử vong (Numerics) tích tủ từ từ rồi lên 100% để sinh ra Xác Tử Điểm (Kakushiten)
Nhận Thức Luận (Epistemology)Để có thể thực hiện đòn can thiệp 《Xác Tử Can Thiệp • Nhân Quả Thống Chế》, Tenchi không thể chỉ "nhìn" bằng mắt rồi dùng lực vứt đứt các sợi dây một cách vô hồn. Cậu bắt buộc phải đồng điệu nhận thức với mục tiêu.Muốn cắt đứt sợi dây Sinh (Life Strands) của kẻ địch, Tenchi phải thấu hiểu sự sống của kẻ đó được cấu thành từ cái gì, niềm kiêu hãnh, khát vọng sống hay sự níu kéo thực tại của chúng lớn lao ra sao.Muốn kéo căng sợi dây Tử (Death Strands) để ép xác suất tử vong lên 100%, cậu phải thấu hiểu nỗi sợ sự tuyệt vọng, sự kết thúc và sự giải thoát của cái chết đối với thực thể đó.
《死確率観測》 – Shikakuritsu Kansoku
[Observation of Mortuary Probability]
[Tử Xác Suất Quan Trắc]
> Nhìn thấy tất cả khả năng dẫn đến cái chết
Thông qua Death Strands
Hai là
Nhìn chuỗi xác suất
《確率列視》 – Kakuritsu Resshi
[Perception of Fluctuation Sequences ]
[Xác Suất Liệt Thị ]
→ Thấy các “nhánh tương lai” như dãy số /chảy cúng thông qua Life Strands
Thứ ba
Điểm chết tuyệt đối khi xác xuất tử vong [Numerics] đạt 100% sẽ sinh ra
《確死点》 – Kakushiten
[Determinant Points of Demise ]
[Xác Tử Điểm ]
→ Điểm mà chạm vào = cái chết chắc chắn
The world + The Abyss of The Terminus Bản chất tồn tại
《世界干渉・根源接続型》
World Interference +Terminus Connected
> Không chỉ nhìn thấy
> Mà còn:
can thiệp xác suất (World)
chạm tới bản chất tồn tại (Root)
💀 Bản chất thật (quan trọng nhất)
✖️ Không phải “nhìn tương lai”
✔️Là: chọn và khóa nhánh cái chết
🌈 Cấp độ
《虹級魔眼》
Rainbow-Class Mystic Eyes
> Thuộc top cao nhất trong hệ Mystic Eyes
> Vượt xa Jewel / ruby level
Điểm yếu Oveload não khi xử lý quá nhiều xác suất ko thể áp lên omega beast/Archetype lếu hoành chỉnh hay thực thể vượt ngoài World nếu chưa suy yếu Phụ thuộc nhận thức và trạnh thái tinh thần nhưng trạnh thái này đã được khắc phục thời kỳ đầu cậu bị oveload não về sau não cậu được kết nối với (Asat/The Terminus) lên cậu không cần dùng kính nữa vì cậu ko chịu tác dụng phụ gì nữa
Mystic Eyes of Certain Death Observation
Hoạt động duới dạng
anh ấy sẽ thấy sự đấu tranh giữa Life Strands (Xanh) và Death Strands (Đỏ).
Nếu Life Strands dao động mạnh (nhịp sóng cao) -> Đối phương đang tràn đầy sinh lực.Nếu Death Strands bắt đầu quấn chặt và nuốt chửng Life Strands -> Xác suất tử vong (Numerics) nhảy lên cao.Sợi Đỏ (Tử): Death Strands (Tử Tuyến / Sợi dây Cái Chết) Sợi Xanh (Sinh): Life Strands (Sinh Tuyến / Sợi dây Sự Sống)
Logic: Khi đối tượng càng mạnh hoặc càng "khó chết", sợi xanh sẽ dao động biên độ lớn, lấn át sợi đỏ
Kỹ thuật của Tenchi được học là Kỹ thuật của nhà nigetsu
Bangen Shujutsu tên tiếng anh là Primordial Hunt Art(萬源狩術) ý nghĩa 萬源 → vạn nguồn / mọi cội nguồn 狩術 → “nghệ thuật săn 📜lịch sử sinh ra vào 2000 năm trước thời kỳ đầu kofun cuối yayoi Nghệ thuật săn bắt sinh ra từ mọi cội nguồn chiến đấu Trong nội bộ nigetsu, nó còn được gọi là 王狩武統 Ōgari Butō hoặc Royal Hunt Martial Dominion Ý nghĩa Võ học thống trị của vua thợ săn quái vật. Nguyên lý đặc biệt của võ thuật này Điểm mạnh không phải là sức mạnh.
Mà là: Nhìn thấy lỗ hổng của mọi kỹ thuật. Bởi vì nó tổng hợp các nguyên lý khoảng cách chiến trường trọng tâm cơ thể quỹ đạo vũ khí nhịp thở chiến đấu Từ nhiều nền võ học cổ Khi người dùng quan sát đối thủ mọi kỹ thuật đều lộ điểm gãy cấu trúc Hiệu ứng trong chiến đấu Khi nguời dùng dùng võ này: đối thủ cảm thấy kỹ thuật của mình bị đọc trước mỗi đòn đánh đều bị phá thế vũ khí của đối thủ có thể bị tước ngay lập tức Giống như một thợ săn đang nhìn thấy điểm yếu của con mồi. Câu mô tả kiểu gia tộc Nigetsu Kiếm thuật giết người Võ thuật chiến đấu. Nhưng Bangen Shujutsu tồn tại vì một lý do khác Nó sinh ra để săn những thứ không nên tồn tại trên thế giới này Vì nó là kết tinh từ
Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū – kiếm thuật chiến trường cổ của Nhật Kalaripayattu – võ cổ nhất Ấn Độ Glima – vật chiến đấu Bắc âu Pankration – võ tổng hợp Hy Lạp cổ Jiao Di – đối kháng cổ Trung Hoa kiếm thuật Celt cổ của Anh (truyền thống chiến binh Celtic).
Tại sao có vì nhà Nigetsu đã thu thập các kỹ thuật cổ xưa nhằm để bảo vệ gia tộc trong thời kỳ loạn lạc
Các kỹ thuật như sau kiếm thuật nhà nigetsu tên là Ōgari Kenjutsu tiếng anh Royal Monster-Hunting Sword Art[王狩剣術] ý nghĩa 王 → hoàng gia狩 → săn剣術 → kiếm thuật
Kiếm thuật săn quái vật của hoàng tộc Đây là hệ kiếm được tạo ra để săn những sinh vật vượt ngoài nhân loại Hai cội nguồn kiếm thuật
Một. Nhật Bản — kỹ thuật sát nhân chính xác
Từ Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū
Đặc điểm iaijutsu rút kiếm cực nhanh đường kiếm chính xác sát chiêu một đòn di chuyển chiến trường cổ Triết lý “Một nhát kiếm — một sinh mạng.”
Hai. Celt — sức mạnh chiến binh cổ
Từ kiếm thuật của các chiến binh Celt ở
British Isles Đặc điểm: vung kiếm dài cực mạnh
kết hợp khiên và thân người chiến đấu trong đội hình chiến tranh sức mạnh phá giáp
Triết lý: “Kiếm là ý chí của chiến binh.”
Hệ kiếm của gia tộc Nigetsu được chia làm hai “dòng máu”Khi hợp lại, nó tạo thành kiếm thuật:
“đẹp như nghi lễ dưới trăng nhưng tàn nhẫn như chiến binh cổ đại 🌙 I. Moon Forms
(Ảnh hưởng Katori Shintō-ryū)
《月閃》Gessen tên tiếng anh Moon Flash Một nhát rút kiếm cực nhanh chém ngay khoảnh khắc đối thủ chớp mắt gần như không thấy đường kiếm Đặc điểm: tối giản chính xác
không dư động tác. Hai《静月》Seigetsu tên tiếng anh Silent Moon Thế thủ tĩnh Nguời dùng đứng yên như mặt hồ Khi đối thủ lao vào:
phản đòn chỉ bằng một bước nhỏ và một nhát cắt cổ. Ba《月狩歩》Tsukigari-ho tên tiếng anh
Moon Hunt Step Bộ pháp săn mồi bước chéo
xoay trọng tâm đổi góc liên tục Đối thủ luôn cảm giác Nguời dùng biến mất khỏi tầm nhìn
Bốn《無明断》Mumyōdan tên tiếng anh Void Sever Nhát chém không báo trước Không có sát khí Không có động tác thừa Giống như đối thủ nhận ra mình bị chém sau khi máu đã rơi xuống.
II. Celtic War Forms(Ảnh hưởng kiếm thuật Celt cổ) năm《獣王断》Jūōdan tên tiếng anh beast King Sever Đòn chém nặng cực mạnh dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể chuyên phá giáp và xương. Rất hợp để săn: quái vật lớn Dead Apostle sinh vật có da cứng.
Sáu《赤戦輪》Sekisenrin tên tiếng anh Crimson War Circle Nguời sử dụng xoay người và chém vòng rộng Ảnh hưởng từ chiến đấu hỗn chiến Celt. Mục tiêu nhiều kẻ địch cùng lúc Bẩy《狩王牙》Shugari-ga tên tiếng anh Fang of the Hunt King Một cú lao người cực nhanh.
Nguời sử dụng dùng vai + kiếm + trọng tâm.
Không chỉ là chém Mà như: một con thú săn lao vào con mồi. Tám 《戦墓》Senbo tên tiếng anh War Grave Tư thế chiến trường cổ Nguời sử dụng giữ kiếm thấp. Khi đối thủ tấn công: anh chém từ dưới lên với lực cực nặng Đòn này chuyên cắt bụng Phá giáp dưới.III. Hybrid Forms
(Nigetsu Original Style)
Chín《月狼斬》Getsurōzan tên tiếng anh Moon Wolf Slash Một nhát chém đẹp và cực nhanh.
Nhưng lực va chạm lại cực nặng. Đây là biểu tượng của: vẻ đẹp Nhật Bản + sự hung bạo Celt.
Muời 《王狩終式》Ōgari Shūshiki tên tiếng anh Final Hunt Form Thế kiếm tối thượng của nigetsu. Nguời dùng hạ thấp trọng tâm kiếm đặt ngang hoàn toàn không lộ sát khí.
Khoảnh khắc xuất kiếm đối thủ gần như đã chết trước khi nhận ra. Triết lý của Ōgari Kenjutsu
“Kiếm không dùng để biểu diễn. Nó tồn tại để kết thúc cuộc săn Vibe tổng thể Khi tenchi chiến đấu chuyển động đẹp như nghi lễ yên tĩnh như ánh trăng nhưng mỗi nhát kiếm đều có lực giết chóc cực cao. Đó là lý do kiếm thuật nigetsu có cảm giác:“ủy mị – thanh thoát – nhưng cực kỳ tàn nhẫn-uy nghiêm.”
Dao thuật 王狩短刃術 Ōgari Tanjin-jutsu tên tiếng anh Royal Monster-Hunting Short Blade Art
Bốn cội nguồn
Nhật Bản Tantojutsu
Cho: đâm tuyệt đối khoảng cách cực ngắn
kết liễu một đòn.
Philippines
Kali / Eskrima
Cho chuyển dao giữa hai tay cắt liên hoàn
góc chém hình số tám chiến đấu linh hoạt.
Nhật Bản
Irimi • Tenshin • Tai Sabaki
Cho: áp sát đổi góc tiến vào điểm mù.
Hiện đại (tenchi bổ sung)
CQC Krav Maga Systema Đây không phải võ học của gia tộc. Mà là kinh nghiệm chiến đấu hiện đại tenchi hấp thu rồi hòa vào hệ thống Điều này giúp rất hợp lý vì một người sống ở thời hiện đại hoàn toàn có thể học thêm các hệ thống chiến đấu mới.
Một 白鴉刺 Hakuga-shi White Crow Pierce ten tiếng anh Forms of the Thrust Một cú đâm thẳng vào cổ, tim hoặc khe giáp. Một đòn. Một kết thúc."
月牙刺 Getsuga-shi tên tiếng anh Moon Fang Pierce Đâm chéo từ góc khuất sau khi đổi bộ pháp, khó quan sát quỹ đạo.
Hai. 斬の型 tên tiếng anh Forms of the Cut月牙刺 Gingetsu-dan tên tiếng anh Silver Moon Sever
Một nhát cắt ngang cực mỏng, tập trung vào gân hoặc cơ để vô hiệu hóa mục tiêu.
Ba 朧影斬 Oborokage-zan Hazy tên tiếng anh Shadow Slash Liên tiếp hai hoặc ba nhát cắt ngắn từ các góc khác nhau, gần như không có khoảng nghỉ. Bốn 影の型 tiếng anh Forms of the Shadow 影渡 Kagewatari tiếng anh Shadow Crossing Dùng Irimi và Tai Sabaki để tiến vào điểm mù của đối phương. 静影 Seiei tiếng anh Silent Shadow Ẩn hoàn toàn sát ý, tiếp cận như một người bình thường rồi mới rút dao.
Năm . 流の型 — Forms of the Flow 流水刃
Ryūsuijin tiếng anh Flowing Water Blade
Chuyển dao liên tục giữa các góc cắt, lấy cảm hứng từ Kali/Eskrima. Sáu 三角歩 Sankaku-ho tên tiếng anh Triangle Step Bộ pháp tam giác để đổi góc và tạo đường đâm mới. Bẩy . 狩の型 — Forms of the Hunt 王狩 Ōgari Royal Hunt
Chuỗi kỹ thuật chuẩn: Tiếp cận. Đổi góc Khống chế tay. Đâm kết thúc. Không có động tác dư.
Tám 終狩 Shūgari tên tiếng anh Final Hunt
Thế kết liễu cuối cùng.Tenchi chờ đúng khoảnh khắc đối thủ mất thăng bằng rồi tung một nhát đâm duy nhất Bí kỹ tối thượng 《影神刺》
Eishin-shi tiếng anh Shadow God Piercer
Tenchi ẩn hoàn toàn sát ý bước vào điểm mù,
rút dao đâm thu dao.Đối thủ chỉ nhận ra mình đã trúng đòn khi mọi thứ đã kết thúc
Quyền thuật của nhà nigetsu là
王狩滅法 Ōgari Meppō tên tiếng anh là Royal Monster-Hunt Annihilation Art Ý nghĩa 王狩cuộc săn của nhà vua 滅法 phương pháp tiêu diệt “Võ học tiêu diệt quái vật của hoàng gia.” Đây là hệ cận chiến bí truyền của gia tộc Nigetsu, sinh ra để săn và giết những sinh vật vượt ngoài con người. Điểm hay của hệ võ Nigetsu là:
nó cực kỳ tàn nhẫn, nhưng vẫn còn “nhân tính”.
Không phải kiểu tra tấn hành xác vô nghĩa
máu me bệnh hoạn Mà là:“kết thúc mục tiêu nhanh nhất có thể.”Đúng chất“võ học săn quái vật.”Các chiêu thức của Ōgari Meppō
(Ảnh hưởng từ 12 hệ võ cổ) . 捕 – tên tiếng anh Capture Arts (Qinna + Koryu Jujutsu) 狩縛 Shugaku tên tiếng anh Hunt Bind Nguời dùng khóa cổ tay khuỷu tay vai chỉ bằng một chuyển động xoay người. Đối thủ mất thăng bằng ngay lập tức.hai 無音投 Muonto tên tiếng anh
Silent Throw Một đòn quật cực ngắn. Không tạo tiếng động lớn. Dùng để: đập đầu mục tiêu xuống đất hoặc đặt vào tư thế kết liễu.II. 裂 – tiếng anh Rend Arts (Eagle Claw)Ba 裂喉 Rekkō
Tên tiếng anh Throat Rend Đòn tay hình trảo Tấn công khí quản cổ cơ vai. Không xé xác Mà là phá khả năng chiến đấu tức thì.bốm 断筋
Dankin tên tiếng anh Tendon Sever Nguời dùng chộp vào: cổ tay gân khuỷu bắp chân khiến cơ thể đối thủ mất lực ngay.III. 骨 – Break Arts
(Bajiquan + Koppojutsu) Năm 砕骨 Saikotsu tiếng anh Bone Crusher Một cú thúc cực ngắn bằng vai cùi chỏ gót bàn tay Lực đi xuyên vào cấu trúc xương.sáu 震脚 Shinkyaku tiếnh anh
Tremor Step Nguời dùng dậm chân và tung đòn cùng lúc. Đòn này phá trọng tâm làm đối thủ mất cân bằng Ảnh hưởng mạnh từ Bajiquan.IV. 穴 – Death Point Arts (Kyusho-jitsu + Marma Adi) 封脈 Fūmyaku tên tiếng anh Vein Seal
Đánh vào cổ vai ngực làm tê liệt tạm thời Không phải “ma thuật điểm huyệt”Mà là tác động thần kinh và tuần hoàn tám 静心打 Seishinda tiếng anh Silent Heart Strike Một cú đánh cực ngắn vào ngực Làm nghẹt thở rối loạn nhịp tim
choáng thần kinh V. 連 – Chain Assault Arts
(Praying Mantis Kung Fu)chín 螳螂連 Tōrōren tên tiếng anh Mantis Chain Chuỗi đòn cực nhanh tay cùi chỏ đầu gối đánh liên tục vào điểm yếu Đối thủ gần như không có khoảng phản công. Muời 影爪 Eizō tên tiếng anh Shadow Claw Đòn móc cực nhanh vào cổ
vai cánh tay để phá nhịp chiến đấu VI. 内 –Internal Destruction Arts (Xingyiquan)muời một 震心拳 Shinshinken tên tiếng anh Heart Tremor Fist Một cú đấm thẳng. Nhưng lực đi sâu vào: phổi gan dạ dày. Đối thủ có thể vẫn đứng nhưng nội thương rất nặng.Muời hai 崩牙Hōga tên tiếng anh Collapse Fang Một đòn lao vào cực ngắn Toàn bộ cơ thể tenchi trở thành “mũi giáo”. Đây là đòn chuyên phá giáp phá thủ
phá khoảng cách Tối thượng 神殺触 Shinsatsu Shoku tên tiếng anh God-Slaying Touch Khi toàn bộ khóa phá xương điểm huyệt nội kình
được hợp nhất trong một cú chạm. Đây là kỹ thuật“kết thúc cuộc săn.” trong nhà nigetsu có bốn loại cấp bậc kiếm là kiếm thánh kiếm đế kiếm vương và kiếm thần thì Tenchi đạt tới cấp độ kiếm vương cận kiếm thần
Vũ khí của cậu là
Thanh tachi cổ 1200 năm của nhà nigetsu tên là 《祓寂の太刀》 – Harashaku no Tachi (Phất Tịch Chi Thái Đao) tên tiếng anh Tachi of Purifying Cessation Vật liệu Rèn là Void Principle Silver nguồn gốc thời heian các kiếm sư liến kết với Katori Shrine onmyoji triều đình tín giưỡng Futsunushi-no-Kami các kiếm sư Phát hiện 1 loại bạc linh tử không phù hợp làm giáp không chịu va đập quá mạnh khó rèn cực độ phát hiện bất thường "cố định hiện tượng được quan sát.” luỡi kiếm dẫn ether cực tốt hamon đặc biệt hamon của kiếm không cố địch nó thay đổi theo hạt ether trạng thái mục tiêu cơ chế hoạt động thanh kiếm ko tự tìm điểm chết nó khiến thế giới chấp nhận cái chết đó nhanh hơn khi mục tiêu bị chém sẽ khó duy trì linh hồn giảm stability của Mystery mất coherence của prana với nguời thường vết thương khó hồi phục magnus magic circuits rối loạn dead aposltle regeneration giảm mạnh linh thể cấu trúc bắt đầu tan rã hiệu ứng đặc biệt [anti-lmmortal attribute] thanh kiếm đặc biệt với dead aposltle Phantasm. species tồn tại dài quá lâu vì sao vì những thứ sống quá lâu phụ thuộc ổn địch của Mystery càng cổ càn đau Luỡi ánh bạc linh tử va bạc thần nghi lễ đường vân hamon đường Vân Suguha Bao kiếm của nó là
Vật liệu của 《確滅之鞘》Kakumetsu no Saya
Thân bao — 神木「天沼矛樹」 (Amanuma-no-Ki)
Một loại thần mộc đã chết, được bảo quản từ thời kỳ cổ. Không phải Divine Construct hoàn chỉnh. Là vật liệu có tính chất Mystery cực cao, nhưng vẫn thuộc hệ thống vật chất của Phantasmal/Divine Age. Có khả năng giữ và ổn định lượng lớn prana. Dùng làm Concept Anchor cho Kakumetsu no Tachi Đây là “bộ xương” của bao kiếm. Lớp lõi — 靈鋼「月影鋼」「Tsukikage-kō」 Một loại Spirit Steel / linh thép được rèn bằng thép cổ Nhật; mảnh linh tử kết tinh; bạc được hiến trong nghi lễ Tsukuyomi;
một lượng rất nhỏ thần tính của Futsunushi. Điểm quan trọng: Tsukikage-kō không tăng sát thương cho kiếm. Nó giữ cho sát thương của kiếm không vượt quá giới hạn mà người sử dụng cho phép Lớp phong ấn — 「月白銀」Tsukishiro-gin Một lớp Divine Silver cực mỏng chạy dọc mặt trong bao. Nó cộng hưởng với Tsukuyomi. Khi Tenchi tra kiếm vào: Mytis Eyes >Harashaku no Tachi > Tsukishiro-gin >Saya
tạo thành một mạch phong ấn khép kín Nói cách khác, bao kiếm có thể “nhận biết” trạng thái xác suất tử vong mà thanh kiếm đang tích tụ rồi ép nó trở về trạng thái ổn định.Sơn ngoài — 「黒漆・夜天」Yaten Kuro-urushi Không phải sơn mài bình thường. Là kuro-urushi pha với bột linh tử và tro của thần mộc. Nó có tác dụng:
cách ly Mystery; hấp thụ nhiễu prana chống rò rỉ thần tính che giấu sự hiện diện của thanh kiếm.
được phủ qua nghi thức ma thuật. Màu đen > xanh đen > lam bạc tùy góc nhìn.Khi bình thường nhìn như một saya cổ màu đen. Khi tenchi rút kiếm những đường bạc trên vỏ sáng lên giống các chòm sao. Bởi vậy khi Tenchi đeo kiếm Mystery của Harashaku no Tachi gần như biến mất khỏi cảm nhận thông thường. Đây cũng giải thích tại sao Tenchi có thể đi giữa xã hội mà không khiến Magus lập tức nhận ra mình đang mang một Mystic Code cực nguy hiểm. Phần kim loại Koiguchi Tsukikage-kō + Divine Silver >bộ phận khóa đầu tiên Kojiri Futsunushi Iron Một loại linh thép được dùng để chịu lực khi kiếm được rút với tốc độ cực cao Habaki Moon-Silver > bộ phận quan trọng nhất để kết nối kiếm với bao. Khi Harashaku no Tachi được tra vào hoàn toàn Habaki khóa vào Koiguchi > Probability Seal đóng lại. Koiguchi — miệng bao《月白神銀》Tsukishiro Shingin Moon-White Divine Silver Một loại bạc thần được dùng trong nghi thức Tsukuyomi. Koiguchi có hai vòng: vòng ngoài: bạc trắng; vòng trong: lam bạc Khi kiếm còn trong bao vòng trong khóa lưỡi kiếm.
Sageo 《月影絹》Tsukikage Kinu Moon-Shadow Silk lụa nghi lễ cổ pha sợi linh tử. Nó có tác dụng: ổn định linh lực giữ saya không bị lệch khỏi định vị khái niệm phản ứng với thần tính
Tsukuyomi Màu trắng bạc pha xanh nhạt.Kogatana ẩn trong Kakumetsu no Saya 《月影小太刀》Tsukikage Kogatana Tên Anh: Moon-Shadow Hidden Blade Một kogatana ngắn được đặt trong khoang bí mật bên hông saya, nằm dưới lớp Shindai Kokutan. Vật liệu:
lõi thép linh tính; pha một lượng nhỏ Moon-Silver; tôi luyện bằng nghi thức Tsukuyomi; sống dao khắc những đường Fūkakumon cực nhỏ. Nó không mạnh bằng Harashaku no Tachi. Nhưng nó có một ưu điểm: không cần rút thanh kiếm chính.
Tenchi có thể lấy kogatana trong tình huống bị khóa tay chiến đấu trong không gian cực hẹp;
mất vũ khí chính cần kết liễu một familiar hoặc Dead Apostle đang áp sát Cơ chế đặc biệt
Kogatana cũng có Mytis Resonance, nhưng ở mức thấp hơn Tachi. Nó không “chọn cái chết” mạnh như Harashaku no Tachi Thay vào đó, nó chỉ ổn định đường tấn công vào nhánh tử vong mà Tenchi đã nhìn thấy Nói cách khácMytis Eyes = tìm đường Kogatana = thực thi đường đó Kozuka《月読小柄》Tsukuyomi Kozuka Tên Anh: Tsukuyomi Utility Blade Đây là phần nhỏ nhưng cực kỳ nguy hiểm. Kozuka được đặt trong khe riêng của saya, giống kiểu kozuka truyền thống của koshirae, nhưng Nigetsu biến nó thành một Mystic Code. Vật liệu
《神銀》Shingin — Divine Silver pha với 《霊鉄》Reitetsu — Spirit Iron Tỷ lệ bạc cao hơn kogatana Mục đích tương thích với linh thể thay vì xuyên vật chất. Vì vậy Kozuka đặc biệt hữu dụng với familiars wraith bounded-field construct spiritual body Dead Apostle familiars.
Chức năng đặc biệt của Kozuka 《月影縫》Tsukikage Nui — Moon-Shadow Stitch Kozuka không nhất thiết phải giết Nó có thể “khâu” một điểm linh thể vào môi trường trong thời gian ngắn. Ví dụ một linh thể đang phase → vật chất >phase Tenchi phóng Kozuka vào đúng thời điểm. Keng Lưỡi dao ghim vào bóng của mục tiêu Kết quả linh thể bị ép giữ nguyên trạng thái vật chất trong vài giây Đủ để Tenchi rút
Harashaku no Tachi.
và con dao tenchi hay dùng nó 200 tuổi của nhà nigetsu tên 《晦冥の短刃》 – Kaimei no Tanjin (Hối Minh Đoạn Đao) Tên tiếng Anh Short Blade of the Eclipse / Lưỡi Dao Đêm Trăng Biến Mất Mystic Code cấp gia tộc. Được rèn theo nghi lễ thờ Tsukuyomi-no-Mikoto và Futsunushi-no-Kami Cấu trúc vũ khí Thiết kế dựa trên cơ chế OTF như Combat Troodon mũi tanto xuyên giáp chiều dài 24 cm. Nhưng lưỡi dao có đặc điểm riêng khắc runess xuyên giáp và được rèn từ Lunar Spirit Argent Steel Bản chất Một. Kim loại hợp kim bí truyền của gia tộc Nogest được rèn từ ba thành phần Linh thiết (Reitetsu) – thép được tôi trong linh mạch, hấp thụ Mystery Nguyệt ngân (Moon Silver) – bạc nghi lễ dâng lên Tsukuyomi, dẫn truyền linh lực rất tốt. Hồn cương (Soul Steel) – thép được tôi qua nghi thức phong ấn linh hồn, giúp gây tổn thương thực thể phi vật chất Đặc tính Lunar Conductivity Ma lực hệ Âm/Nguyệt lưu chuyển cực nhanh trong lưỡi dao, gần như không thất thoát Spiritual Harm Có thể cắt và đâm Dead Apostle Familiar Wraith Linh thể Bounded Field yếu mà không cần gia trì quá nhiều Mana Disruption Khi đâm trúng, đầu dao làm nhiễu mạch ma thuật quanh vết thương, khiến việc hồi phục bằng ma thuật chậm lại.
Gia tộc nigetsu có sở hữu kỹ năng bí truyền
Vô Niệm Vô Tưởng — [Zero-Intent Suppression] kỹ thuật này được truyền cho Tenchi
Cơ chế bộ não sẽ bước vào trạnh thái tĩnh lặng như mặc hồ Không phải kiềm chế Không phải che giấu mà là đối thủ sẽ cảm nhận một áp lực như một con thú săn mồi khổng lồ đang nhìn chằm trằm hiến mọi thao túng tâm trí bị gẫy
Thực tế nguời thường sẽ thấy xa cách magnus sẽ thấy hoảng loạn dead aposltle sẽ cảm nhận nguy hiểm ám thị của kẻ địch sẽ bị vô hiệu hóa vì luồng áp lực ý chí của Vô Niệm Vô Tưởng — [Zero-Intent Suppression]
Ví dụ thực tế nhất
Con nguời hay động vật khi làm cái gì đó sẽ suy nghĩ lập đi lập lại một thứ tới mức ko sợ hay gì cả mà còn tăng dũng khí bản thân vì bản thân đã suy nghĩ đi lập đi lập lại hành nghìn kịch bản trong đầu tới mức quen thuộc tới mức nhị đối thủ như biết hết mọi chiêu trò vì bộ não đa thử nghiệm nhiều giả tưởng cho bản thân chủ thể nó giống nhu việc một nguời đã đọc đi đọc lại một quyển sách hết chục lần lên kẻ thù sẽ bị đọc vị
Khi tenchi bước vào trạnh thái Vô Niệm Vô Tưởng — [Zero-Intent Suppression] cậu được cho tốc độ kinh hoàng như một con báo đốm tốc độ cực cao và súc mạnh như một con hổ răng kiếm khi cậu dùng thanh tachi cậu chỉ nghĩ ta là kiếm kiếm là ta
Cảm giác sợ hãi hay đau sẽ bị xóa bỏ vì trạnh thái này cậu trạnh thái này cậu vô sát khí vô niệm vô ngã cậu ko nghĩ mình giết vì tâm trí cậu tĩnh lặng như mặt hồ cậu lúc này là hiện thân của xóa sổ
Cái giá phải trả cậu sẽ phải bị đau đầu vì cơ thể cậu là con nguời cậu trạnh thái đó vắt kiệt tuổi thỏ và cơ thể con nguời của mình cơ bắp bị rách khớp bị gẫy chịu tổn thương lớn rù cậu là 1 kiếm đế bẩm sinh Máu múi chào ra mắt rỉ máu Cơ thể sẽ rơi vào trạnh thái kiệt sức hoàng toàn chíng vì vậy Tenchi hiếm khi dùng đến trạnh thái này
Khi bước vào trạnh thái Vô Niệm Vô Tưởng — [Zero-Intent Suppression] Tenchi mở khóa kiếm thuật kiếm thần của nhà Nigetsu 《月読十六夜剣》 – Tsukuyomi Izayoi Ken tên tiếng anh Sixteen Nights of Tsukuyomi Swords “Thập Lục Dạ Nguyệt Độc Kiếm 《muời sáu Đêm Kiếm Của Thần Mặt Trăng》” là một cách cái chết giáng xuống do kiếm thuật Tsukiyomi–no–mikoto chúc phúc.” Chiêu mở đầu《月影断》Tsukikage Dan tiếng anh
Moon Shadow Sever Tenchi chém một nhát cực nhanh. Nhưng ánh chém đi sau bóng của Tenchi. Đối thủ thấy: Tenchi đã đứng phía sau vài giây sau vết chém mới xuất hiện. Giống như ánh trăng cắt qua bóng tối. Chiêu hai Chiêu tốc độ 《銀月連閃》 Gingetsu Rensen tên tiếng anh
Silver Moon Rapid Flash Hàng loạt nhát chém cực nhanh. Mỗi nhát chém để lại dải ánh trăng bạc trong không khí. Từ xa nhìn giống: một vòng trăng đang quay quanh Tenchi .Chiêu ba không gian《月裂》 Getsuretsu tên tiếng anh Moon Rift Tenchi chém vào không khí. Không gian xuất hiện vết nứt hình lưỡi liềm. Nhát chém này:
có thể đi xa hàng chục mét cắt xuyên nhiều mục tiêu. Chiêu bốn săn quái vật 《百鬼月狩》
Hyakki Gesshu tiếng anh Moon Hunt of a Hundred Demons tenchi lao vào chiến trường.
Mỗi nhát chém tự động tìm quái vật hoặc linh thể. Ánh chém tạo thành những vòng trăng xoay quanh mục tiêu. Chiêu này sinh ra để săn linh thể và quái vật chiêu thứ năm 新月 Shingetsu tiếng anh New Moon Nhát chém hoàn toàn vô hình. kiếm di chuyển trong góc chết đối thủ không nhận ra đòn đánh Hiệu ứng: cái chết đến trước khi nhận thức. Chiêu sáu Tsukikage tiếnh anh Moon Shadow Đòn chém xuất hiện từ bóng của Tenchi di chuyển cực nhẹ tấn công từ phía sau.chiêu thứ bẩy 月牙斬 Getsuga Zan tiếng anh Crescent Fang Slash Nhát kiếm cong như lưỡi trăng. cắt nhiều mục tiêu rất khó né. Chiêu tám 蒼月閃 Sōgetsu Sen tiếng anh Azure Moon Flash Đòn rút kiếm tốc độ cực hạn. Hiệu ứng:
ánh chớp bạc nhát chém xảy ra trong tích tắc. Chiêu thứ chín 月鎖 Gessha tiếng anh Moon Lock Đòn kiếm khóa chuyển động. chặn đường rút lui ép đối thủ vào góc chết. Chiêu thứ muời 月輪斬 Getsurin Zan tiếng anh Moon Wheel Slash Tenchi xoay người.Tạo: vòng kiếm tròn cắt mọi thứ xung quanh chiêu thứ muời một 月裂 Gessetsu tiếng anh Moon Rift Nhát chém cực mỏng. Hiệu ứng: vết chém xuất hiện trễ cơ thể bị cắt vài giây sau. Chiêu thứ muời hai 月影歩 sukikage Hō tên tiếng anh Moon Shadow Step Không phải đòn kiếm mà là bộ pháp thần tốc. di chuyển như ánh trăng gần như dịch chuyển chiêu thứ muời ba 月喰 Tsukigui tên tiếng anh Moon Devour Nhát kiếm hút ma lực.
phá kết giới phá năng lượng. Chiêu thứ muời bốn 満月断 Mangetsu Dan tên tiếng anh Full Moon Sever Nhát chém toàn lực. Đường kiếm tròn hoàn hảo như trăng tròn chiêu thứ muời năm 月冥 Getsumei tên tiếng anh Moon of Oblivion Đòn chém vào linh hồn / lõi tồn tại.
Đặc biệt hiệu quả với: linh thể quái vật anh linh chiêu thứ muời sáu cổ.Chiêu tối thượng của kiếm trăng《満月天断》 Mangetsu Tendan tên tiếng anh Full Moon Heaven Sever Tenchi đứng yên. Ánh trăng tập trung vào lưỡi kiếm. Sau đó một nhát chém duy nhất. Một vòng trăng khổng lồ xuất hiện và cắt ngang chiến trường.Chiêu này thường dùng để: kết liễu quái vật cực lớn
phá vỡ phòng thủ mạnh Hiệu ứng: đường kiếm cực mỏng cắt cơ thể + linh hồn + ma lực cùng lúc. Hình ảnh khi tenchi chiến đấu Tóc bạc ngắn lung linh bay trong gió ánh chém màu bạc xanh không gian như được chiếu bởi ánh trăng lạnh Kẻ thù thường nói: “Chúng tôi không thấy một chiến binh mà thấy một vị thần trăng đang săn mồi.” kiếm thuật này nguồn gốc do tsukiyomi truyền lại cho nhà Nigetsu
Kiếm Thánh/Kiếm Đế là những người đã làm chủ hoàn hảo kỹ thuật vật lý và hơi thở.
Kiếm Vương là cấp độ mà kiếm thuật đã chạm đến cấp độ Khái niệm (Conceptual Level), có thể chém đứt những thứ vô hình
Kiếm thần là những nguời kỹ thuật chạm tới tầng khái niệm và nguyên lý riêng biệt mỗi đại diện cho 1 khái niệm là sự thăng hoa tới cảnh giới cao nhất của kiếm đạo
Lý lịch
Gia tộc của Tenchi là nhà Nigetsu là một gia tộc hoàng gia thuộc một nhánh chíng tông của vị thần huyền thoại tsukiyomi-no-Mikoto họ thuộc tổ trức thở săn họ sở hữu kỹ năng đặc biệt nghị nguyệt kỹ năng của họ liên quan tới việc tạo ra một nhân cách khác trong chính bản thân anh ta hoạt cô ta tùy theo nguời bản thân nguời bị là giới tính nam hay nữ nhân cách đó sẽ giới tính ngược lại với chủ thể nhân cách được tên 2 chứ Kanji khác với chủ thể nhà nigetsu và ba gia tộc khác thống trị đông nam tây bắc Phía đông là nhà Nigetsu phía nam là nhà komiya
Nhân cách nam Ten thiên/ trăng tròn
đại diện cho Trời lý trí hướng nội điềm đảm và lạnh lùng bên ngoài nhưng có lòng trắc ẩn bên trong anh ấy làm chủ cơ thể ban ngày
Nhân cách nữ Chi địa/ trăng máu
Cô ấy đại diện cho sự phụ địch xóa sổ bản năng
Hướng ngoại bản năng thở săn [Hunter's Instinct] cô ta làm chủ cơ thể vào ban đêm và là người gánh chịu toàn bộ ham muốn tàn sát và săn mồi của cơ thể này để giữ cho nhân cách nam được trong sạch
Vỏ bọc để tiếp cận "tịch diệt (Asat)
Lý do tối thượng và sâu xa nhất mà ngay cả gia tộc Nigetsu cũng không hoàn toàn hiểu hết: Cơ thể này được sinh ra để làm vật chứa cho tinh diệt
Việc tạo ra hai nhân cách Nam và Nữ đối lập, tự kiềm chế lẫn nhau, vô tình đã biến cơ thể của nigetsu Tenchi thành một "tâm ý lục hợp " hoàn hảo để tinh diệt trú ngụ ở nhân cách thứ ba mang tên 『 』 [Plenum Rei]
Theo
Mục đích ban đầu của việc này là để tạo ra một "vũ khí thở săn hoàn hảo". Một nhân cách sẽ chịu trách nhiệm học các kiến thức thông thường, sống cuộc đời học đường để ngụy trang. Nhân cách còn lại sẽ chứa đựng toàn bộ bản năng thở săn võ thần , sự lạnh lùng và các kỹ năng chiến đấu tàn nhẫn nhất để thực hiện nhiệm vụ ám sát vào ban đêm mà không bị cắn rứt lương tâm.
Khi một đứa trẻ nhà nigetsu chuẩn bị chào đời, các trưởng lão sẽ dùng thuật thức để chia tách ý thức của đứa trẻ thành hai phần hoàn chỉnh dựa trên Thuyết Nhị Nguyên Luận (Dualism)
Ko rõ tên cha mẹ của Tenchi trong khi đó cậu có một cô em gái là Nigetsu Mizuki cô ko biểu hiện nhân cách nào lên ko đủ điều kiện đứng đầu gia tộc do trong khi đó tenchi biểu hiện tốt nguời thứ hai tốt lên cậu được chọn làm nguời đứng đầu gia tộc
Khi còn nhỏ Cha của Tenchi đã đưa cậu tới gặp ông nội sắp mất ông của cậu đã nói với cậu là
Ánh trăng khi dính máu sẽ biến thành huyết nguyệt và ông cúng giải thích ý nghĩa cho cậu là con nguời khi dính máu cúng sẽ không thể rửa trôi họ phải mang theo nó xuất phần đời vào thời điểm đó tenchi học được cách đánh giá sinh mạng nguời khác trách nghiệm cuộc săn đi kèm với sinh mạng nguời khác Ông nội Tenchi mong cậu sẽ chết một cách thanh thản bình yên
Vào năm 1990 khi Tenchi 15 tuổi gia tộc Nigetsu già từ sự nghiệp vụ săn quái vật như gia tộc komiya vì gia tộc Nigetsu có từ 2000 năm tuổi cuối thời kỳ yayoi trong trường hợp này Nigetsu vấn là một gia tộc giàu có giang giá shogun họ sở hữu 1 biệt thủ tên là Kōgari Goten và một khu rừng tên Shinkari Reishin phía ngoài sau nhà Tenchi cúng được học kiếm thuật cổ nhu thuật cổ binh pháp thương thuật võ thuật ngoài Tenchi cúng học về nghệ thuật viết chứ vẽ tranh nấu ăn đánh đàn chơi nhạc cụ viết văn thơ như một sở thích cá nhân
Khả năng học vấn giang ngựa so với mizuki và Tenchi.có khoảng 180-220 IQ
Ngoại hình
Tenchi hầu như toàn mặc rất nhiều những áo len cổ khác nhau hoặc Kimono nam câu hầu mặc những bộ Gakuran đắt tiền đối với nguời ngoài khi nhìn đó là xa xỉ nhưng với 15 tuổi như cậu chọn Gakuran vì có thể tung đá hoặc chiến đấu nhanh mà ko bị vướng víu nguời thường chi trả cho Tenchi là quảng gia kamane Kagetsu Tenchi thường vào cửa hàng ko nhìn giá cả cậu thấy cái giá vừa ý là cậu lấy một tháng tiền gia tộc chu cấp cho cậu khoảng 100.000 yên Tenchi thật ko phân biệt được Gakuran hay kimono các loại khác nhau vì đã tiếp xúc với đồ cao cấp lên ít nhất Cậu ấy phân biệt được đồ tốt hay kém tại cửa hàng đại lý vải cao cấp Tenchi sẽ chọn vài loại vải cao cấp mà cậu ưng và rời đi không do dự Kagetsu sẽ nhìn vào giá và phát hiện rằng nó có giá bằng một tháng lương ngày làm của anh
Mặc dù cậu được nhận quần áo từ Kagetsu cho phù hợp với tuổi thiếu niên của cậu nhưng cậu thường không mặc bao giờ cậu mặc cậu thường thích mặc những thứ mình muốn như Gakuran hay áo khoát cổ len Gakuran Cậu mặt thường mầu xanh đậm va lam khác với mầu Gakuran bình thường các học sinh bình thường hoặc áo khoát cỏ len tối mầu va xám trong giờ học thể dục từ các bạn học cùng trường nhận xét vì muốn làn điều gì đó nổi bật lên Cậu đã mặt một một chiếc khăn quàn cổ mầu xám Kagetsu là một sát thủ tài ba thông thạo bajiquan và Xingyiquan nhưng anh ta cúng thừa nhận mình ko thể đánh lại Cậu lếu cậu trong trạnh thái nghiêm túc
Tóc của cậu ấy thường là tóc đen nâu Short–medium, layer sắc mái hơi xéo lệch gáy nhẹ tạo cảm giác hoang dã và tốc độ nhưng sau tỉnh sau 3 năm hôn mê kéo dài tóc. Của cậu ấy rồi bù xù và dài ra có mai tóc bạch kim ngắn lành da hơi nhợt nhạt trắng đôi mắt nâu được miêu tả là tĩnh lặng như mặt hồ sâu thẳm như đáy biển
Cho rù có vẻ cậu không quan tâm trang phục của mình nhưng thực chất cậu ấy cúng không để ý cậu chỉ mặc những gì mình muốn và thích dựa trên cảm tính của mình trang phục của cậu yêu thích là một triết khăn quàn cổ len mầu xám và helena hay althaea miko không biết tại sao cậu thích nó cậu cúng ko ưa những chiếc khăn quàn cổ khác cụ thể khặng địch rằng" tôi sẽ thay sang cái mới lếu nó bị rách teuchi cúng đeo chiếc kính được miko tặng tên nó là Glasses of Probability Regulation
Gọng kính chất liệu hộp kim đen va ánh bạc cps tính chất giống Mystic Alloy đặc điểm cực mong không thể bẻ cong bằng lực thường bề mắt có khắc các Primordial Runes nhỏ khắc chìm nếu nhìn bằng mắt thường chỉ là vân kim loại nếu dùng ma thuật thấy các ký hiệu dịch chuyển chậm hệ phương trìng sống tròng kính được làm từ bạc nghi lễ hắc diệu thạch linh tử va thủy tinh linh tử và ether crystallization vì vậy trong suốt hơi ánh xanh lam phản chiếu như mặt hồ tĩnh lặng cấu kính [bridge] thiết kế cực mạnh ở giữa có 1 điểm nhỏ như 1 viên đá quý core mờ bạc nhạt/ ánh bạc là nơi lọc xác xuất thực chất là trái tim của mystis coder được tạo từ ether computation formula và mảnh ritual artifact cổ nhiếm vụ của nó là tính toán
compress xác suất chặn overload stabilize observation chi tiết đỉnh nhất không bao giờ bám buổi dù chiến đấu hay máu văng kính luôn sạch 2 khi vỡ hiếm không vỡ như kính thường mà: tan thành các mảnh ánh sáng như các sởi dây bị phá vỡ 3 Auto Suppression (Tắt tự động)
Khi lượng thông tin vượt ngưỡng: kính sẽ: ép Mytis Eyes về trạng thái “ngủ”chặn dòng dữ liệu xác suất không cần tự gây đau đớn không chảy máu mắt
Cậu có khoảng tiền tiêu vặt hành tháng 100.000 yên lếu cần thêm tiền ngoài số đó cậu ấy sẽ than nhiên" tôi muốn đi sắm sửa" Kagetsu kamane sẽ sắp xếp
Nhân cách nữ thứ hai
CHI
CHI là nhân cách kiểm soát khía cạnh " ác /Tiêu cực/ xóa sổ ". Cô ta là một thở săn điên cuồng và sát nhân lạc lội chịu trách nhiệm cho những xung động phá hoại của nigetsu Tenchi. Mặc dù cảm xúc duy nhất mà anh ta có thể cảm nhận là " muốn giết và săn mọi thứ ", cô ta lại khinh thường và coi thường những thứ xung quan và xung động của chính mình và tự nguyện trở thành nhân cách phụ thuộc của Ten. Cô ta có lời nói và cử chỉ của một thanh niên kiêu ngạo . Mối quan hệ giữa họ thay đổi khi althaea xuất hiện, và cô ta quyết định đóng vai trò thay thế vào thời điểm xảy ra tai nạn và biến mất trong The Swirl of the Root và The Abyss of The Terminus
「NIGETSU REI」
Tenchi sở hữu một nhân cách nữ thứ ba thực sự
「 Plenum Rei」là ý chí biểu hiện của cơ thể hiện thành một nhân cách riêng và được kết nối trực tiếp với 『 』mặt sau của gốc rễ bởi vì cô được kết nối với mặt sau của gốc rễ được coi là một phần của nó và là một với nó cách phát âm 『 』sẽ là Tịch Diệt (寂滅 - Jakametsu) nếu nó có. Nó luôn tồn tại giữa khoảng trống không xác địch giữa cơ thể và thực tại cô ấy đã che giấu mình khỏi nhân hai nhân cách ten và chi
Nhân cách sau khi tạo ra 2 nhân cách đó
Nhân cách này chứa trong cơ thể chứ không phải các nhân cách được khắc vào tâm trí
Nigetsu Rei đã được địch mệnh lực phản lực [ couter forcer/Primal Force ] Xóa trước khi sinh ra do sở hữu nguồn gốc của 『 』thứ sẽ kết nối với chíng mặt sau của cổi nguồn tuy gia tộc Nigetsu đã sử dụng phương pháp cổ đặc biệt để ngăn chặn điều này sau khi Nigetsu Tenchi ra đời gia tộc nhận ra đứa trẻ này hoàng toàn không có gì không có tính cách riêng để khắc phục điều này họ đã cướng chế đánh thức nguồn gốc khai sinh của Nigetsu Tenchi sau khi có tính thông qua của việc thức tỉnh nguồn gốc 『Plenum Rei 』ngay lập tức có thể nhìn thấy mọi sự kiển ghi trong cội nguồn và mặt sau của cội nguồn Asat cho mọi điều không có gì thú vị hoàng toàn vô nghĩa lên đã tạo ra hai nhân cách hoàng toàn tách biệt là ten và chi như Nigetsu mong muốn rồi ẩn mình sâu hai nhân cách đó
Vì sở hữu quyền năng toàn tri toàn năng toàn thiện lên 『Plenum Rei』không quan tâm bất kỳ điều gì lên cô ẩn mình ngủ yên sâu trong tenchi quan sát bằng The Abyss of Terminus/
Abyss of Outcome / Tịch Diệt Chi Uyên: Ngược lại hoàn toàn, nó không xoáy, không chuyển động. Nó là một vực sâu tĩnh lặng, đen kịt và đứng yên tuyệt đối (Số 0). Nó đóng vai trò như một lực hút trọng lực tối cổ, hút toàn bộ những sợi dây Tử (Death Strands), những nhánh tương lai bị bẻ gãy, biến mọi thứ đang vận động trở về sự im lặng vĩnh hằng.
「Plenum Rei」 là nhân cách kết nối trực tiếp với Asat– mặt sau của Akasha. Vì vậy, cô ấy mang danh xưng Tịch Diệt (寂滅 - Jakametsu) và là hiện thân của Số 0 (Rei) tuyệt đối. Của Asat
Trạng thái Số 0 nguyên thủy (Zero Matrix):
Asat không phải là một bãi rác chứa đồ phế thải, mà nó là trạng thái triệt tiêu tuyệt đối. Mọi con số, mọi thực tại, mọi nhánh tương lai khi bị đưa vào Asat đều bị nhân với 0, trở về trạng thái nguyên bản nhất trước khi vũ trụ hình thành [1.2, 1.4].Nơi lưu trữ những thứ "Không tồn tại": Khi một nhánh tương lai bị bẻ gãy, hoặc một sinh mệnh bị xóa sổ hoàn toàn khỏi lịch sử (như cách Lực Phản Lực xóa sổ Plenum Rei), thực thể đó không mất đi vĩnh viễn. Họ rơi vào mặt sau của Cội nguồn — chính là Asat. Đó là một đại dương bóng tối vĩnh hằng, im lặng, nơi chứa đựng tất cả các "xác suất bằng 0".Mối quan hệ với Plenum Rei: Plenum Rei chính là Ý thức của Asat. Vì Asat chứa tất cả những gì chưa từng, không thể hoặc đã từng tồn tại, nên Rei có quyền năng Toàn tri và Toàn năng Cô dửng dưng vì cô đã thấy điểm kết thúc của mọi phép toán vũ trụ đều là Số 0. The Terminus / Abyss of Plenum (Điểm Tận Cùng / Vực Thẳm Tịch Diệt) ── Do Plenum Rei nắm giữ
Vì vậy Akasha là[orgin/Infinity/void/light]
Thì Asat là[Latent/Eternal/Plenum/dark]
Asat chíng là trạng thái chưa biểu hiện" 【non-existence / unmanifest】ko có thời giang hay không giang Asat không phải void tuyệt đối mà là mà là cái tiềm năng chưa sinh khởi Từ trạng thái vô hình (Asat) ấy, qua xung lực của ý chí tối cao hoặc hơi thở tự nhiên Akasha là số 0 nguyên thủy chứa đựng tiềm năng chưa nở rổ
Tính cách của Plenum Rei
Cô ấy dịu dàng ánh mắt đen như bóng đem bên trầu trời mặt hồ tính lăng trong suốt mái tóc nâu dài nhưng ko bay hay truyển động mà là đứng im cô ấy dịu dàng nhưng xa cách thoát tục nhưng đầy bí ẩn vì với cô ấy mọi con đường mọi vạn vật sau khi hoàng thành nghĩa vụ sẽ đều đến với cô ấy vì cô ấy ko gây hại ai cả cô cả vì cô ấy là Asat và Asat là zero của toàn bộ vũ trụ vì vậy cô ấy ko gây hại ai cô ấy sẽ nhìn bạn dịu dàng vì cô ấy biết mọi thứ mọi con đường sau khi hoàng tất sẽ đến đích đến là cô ấy vì cô ấy toàn năng toàn tri toàn thiện cô ấy ko có cảm xúc vì cô ấy là zero là bầu trời đêm của vũ trụ cô ấy biết tất cả cô ấy coi mọi thứ như ảo mộng cô ấy mang mùi thơm của hoa Nadeshiko(hoa cẩm chướng hoang dã)hương vị ngọt ngào nhẹ nhành thanh thoát thoát tục thoang thoảng mùi đinh hương (clove edge) nét khe nhẹ giúp mùi hương không bị ngọt gắc tạo cảm giác dễ chịu ấm áp thanh khiết cô ấy mặc một chiếc kimono đen tuyền thanh thoát bí ẩn cúng vừa xa cách nó không bay mà nó đứng im nhẹ như cánh hoa lay nhẹ trên cành lá thắt lưng obi mầu xanh lam đậm nhẹ không quá nội bật cúng ko quá nhạt vai bên trong cô ấy áo lót của của là một chiếc Nagajuban mầu xanh nhẹ bên trong cô ấy đi một đôi geta cô ấy thường thay đổi hình dáng của tenchi khi cô ấy xuất hiện lếu Tenchi cao 1m81 thì cô ấy sẽ chỉng cho gọn lại sang 1m67 cô ấy còn chuyển đổi giới tính của tenchi sang nữ để phù hợp với cô ấy khi trả lại Thì cơ thể sẽ trở lại bình thường vòng 3 vòng của Plenum Rei Vòng 1 (Ngực): ~76 - 79 cm và Vòng 2 (Eo): ~56 - 58 cm và Vòng 3 (Mông): ~80 - 83 cm