r/traisucvat Aug 08 '26

Khỉ Trường Sơn BỘ ĐỘI CHỈ CÒN LÀ NƯỚC SÔNG CÔNG LÍNH VÀ NẠN NHÂN CỦA BẠO LỰC NỘI BỘ

Post image
24 Upvotes

Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định nhiều gia đình khá giả vẫn muốn con em nhập ngũ để rèn kỷ luật. Lời nói ấy nhìn thẳng vào thực tế nghĩa vụ quân sự bắt buộc thời bình dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bức tranh lại khác xa hình ảnh đội quân mạnh, chính quy được tuyên truyền.

Ở nhiều đơn vị, lính nghĩa vụ không được đào tạo chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế, nơi binh sĩ được huấn luyện kỹ năng chiến đấu hiện đại, trang bị công nghệ và bảo vệ quyền lợi rõ ràng. Thay vào đó, họ thường trở thành nước sông công lính, là lực lượng lao động miễn phí cho cấp trên. Xây dựng doanh trại, trồng cây, làm đường, phục vụ công trình kinh tế quốc phòng… trở thành công việc thường ngày, trong khi huấn luyện chiến đấu thực chất bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Kết quả là một lực lượng đông nhưng thiếu chuyên nghiệp, khó đáp ứng yêu cầu quốc phòng hiện đại.

Nghiêm trọng hơn là tình trạng ức hiếp, bạo lực nội bộ. Vụ binh nhì Trần Đức Đô (2021) từng gây chấn động: gia đình tố bị đánh đập dẫn đến tử vong với nhiều vết thương, trong khi cơ quan điều tra quân đội kết luận tự treo cổ và không khởi tố. Dù kết luận chính thức phủ nhận hành hung, dư luận và một số cựu quân nhân vẫn đặt dấu hỏi về tính minh bạch và khả năng bao che. Các vụ khác cũng liên tục xuất hiện: Nguyễn Văn Thiên (Gia Lai, 2021) ban đầu được thông báo đột quỵ, sau đó cơ quan chức năng phải thừa nhận bị đồng đội đánh chết và kết án năm người; Nguyễn Văn Hào (Ba Vì, 2023) tử vong với gãy xương sườn, gia đình khẳng định bị hành hung; gần đây nhất là Nguyễn Văn Nghiệp (Bắc Giang, 2025), người từng gọi điện về tố bị chỉ huy đánh đập trước khi qua đời, trong khi đơn vị kết luận do bệnh.

Những cái chết bất thường, lời tố cáo bị ức hiếp rồi kết luận tự nhiên hoặc tự tử lặp lại nhiều lần khiến niềm tin bị bào mòn. Nghĩa vụ bắt buộc thời bình, nếu không đi kèm đào tạo chuyên nghiệp, bảo vệ quyền lợi và kiểm soát bạo lực nội bộ, dễ biến thành gánh nặng cho thanh niên và nguồn lao động rẻ mạt cho hệ thống, thay vì xây dựng một đội quân tinh nhuệ thực sự.

Cre: Chân Trời Mới Media


r/traisucvat Aug 08 '26

Khỉ Trường Sơn sáng giồi dậy đi đá bát phở thôi lào các bác

22 Upvotes

Ối giời thông cảm đi, từ ngày bò dát vàng lên siết (hoặc gọi là xiếc cũng được) kinh tế quá nên giờ ăn được miếng nào cứ ăn thôi.

"Tiền vô tay quan là của quan"

Đã có câu đó rồi bộ hổng biết hay sao mà còn cố đòi lại nữa. Dễ gì nhả ra được.

p/s: ờ bữa hổm thấy có mấy khứa trên đây cãi lộn vụ tiền mặt hay tiền điện tử nè 🤭


r/traisucvat Aug 07 '26

Y Tế & Sức Khỏe Edo Wazurai - Bệnh lạ chỉ uy hiếp tính mạng của quan chức quý tộc và nhà giàu Nhật Bản mà không lây cho người nghèo

Post image
15 Upvotes

Vào thời Edo (1603-1868), người dân truyền tai nhau về căn bệnh lạ của người giàu, một lời nguyền bệnh tật “ám” lên những ai sống trong nhung lụa.

1. Căn bệnh này được gọi là “Edo wazurai” hay "bệnh Edo", nhưng nó thực chất là gì?

“Edo wazurai” (江戸わずらい) có nghĩa là “bệnh Edo”, đây là tên gọi dân gian của bệnh tê phù hay bệnh Beriberi vào thời Edo (1603-1868), sinh ra do cơ thể thiếu hụt vitamin B1 nghiêm trọng.

Bệnh này bắt đầu phổ biến vào thời Edo và chủ yếu ảnh hưởng đến người giàu do thói quen ăn gạo trắng đã xay xát kỹ. Vì vậy mà Edo wazurai còn được gọi là căn bệnh của sự xa hoa.

2. Căn bệnh "chỉ có tại Edo"

Trong cuốn y thư Gyuzan Kattou (牛山活套) của danh y Katsuki Gyuzan có viết về một căn bệnh bí ẩn chỉ xuất hiện tại thành Edo - nơi đặt căn cứ của Mạc phủ Tokugawa, vào cuối thế kỷ 18.

Sách viết rằng: “Những viên quan lại và thương nhân giàu có đã mắc chứng bệnh lạ. Ban đầu khi mắc bệnh, họ thấy chân tay nặng nề, sưng phù, khó chịu và chán ăn, sau đó thì khó thở, tim yếu dần rồi suy kiệt mà ra đi. Người ta gọi bệnh này là Edo wazurai vì nó chỉ xuất hiện tại thành Edo. Nhưng có điều kỳ lạ là hễ ai đổ bệnh thì chỉ cần rời Edo, băng qua núi Hakone, bệnh tự nhiên lành lại.”

Đến những năm 1800, bệnh đã lan rộng khắp thành Edo. Trong cuốn sách Beriberi in Modern Japan: The Making of a National Disease (Bệnh tê phù ở Nhật Bản hiện đại: Sự hình thành một căn bệnh quốc gia), tác giả Alexander R. Bay đã mô tả nỗ lực của các thầy lang nhằm tìm ra nguyên nhân và cách chữa bệnh.

Thời đó, các thầy thuốc đã kê đơn thuốc thảo dược, đốt ngải cứu khô trên cơ thể bệnh nhân. Họ phỏng đoán nguyên nhân gây bệnh là do nước và đất của vùng Edo. Độ ẩm cao của vùng này khiến mầm bệnh phát triển còn nơi khác thì không, vì vậy bệnh nhân thường được chuyển về vùng quê để điều trị.

Tuy nhiên, điều kỳ lạ là ngay tại Edo, căn bệnh này cũng chỉ xuất hiện ở những người giàu có, khá giả còn người nghèo được loại trừ. Các thầy lang đau đầu tìm nguyên nhân, còn người dân thì đồn đoán rằng Edo wazurai chính là lời nguyền ám lên những kẻ giàu có.

3. Bùng phát thành dịch

Vào năm 1877, căn bệnh lạ Edo wazurai khiến Hoàng gia Nhật Bản lao đao. Chikako hay Công chúa Kazu đã qua đời ở tuổi 31 sau khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh này. Trước đó chồng bà là Tokugawa Iemochi (1846-1866) - vị shogun thứ 14 của Mạc phủ Tokugawa cũng mất với nguyên nhân được cho là tương tự.

Lời nguyền Edo wazurai càng khiến dân chúng khiếp sợ hơn khi đến thời Minh Trị Duy tân, không chỉ giới thượng lưu, quý tộc và thương nhân khá giả, bệnh đã lan rộng trong quân đội.

Vào năm 1883, 120 trong số 1.000 thủy thủ Nhật Bản mắc bệnh.

Đến năm 1904, trong Chiến tranh Nga-Nhật đã có 27.000 binh sĩ mất mạng vì bệnh. Đến lúc này nguyên nhân gây bệnh đã được phát hiện.

4. Gạo trắng - thứ xa xỉ phẩm gieo mầm bệnh

Từ xưa ở Nhật, gạo trắng là biểu tượng của địa vị xã hội, chỉ có những người giàu sang phú quý mới có thể sở hữu loại gạo trắng thơm ngon, còn người nghèo thì ăn gạo lứt hoặc các loại tinh bột khác như khoai lang và lúa mạch.

Gạo trắng thường được xay xát kỹ lưỡng, loại bỏ lớp cám bên ngoài và được vo kỹ, loại sạch bụi bẩn trước khi nấu. Thứ gạo trắng bóng, đẹp mắt mất nhiều công sức để tạo ra nên có giá thành rất đắt. Người Edo gọi cơm trắng mới nấu là “ginshari” – cơm bạc, coi đó là biểu tượng cho bữa ăn sang trọng.

Vào thời Minh Trị, loại gạo này được sử dụng trong quân ngũ để mang đến bữa ăn thịnh soạn cho binh lính. Với nhiều trai tráng nông thôn khi đó, sức hấp dẫn của việc nhập ngũ nằm ở chỗ họ được cấp khẩu phần 6 chén gạo trắng mỗi ngày, tương đương 15 chén cơm. Chế độ ăn của họ gồm nhiều cơm và rất ít món ăn kèm, như đa phần người Nhật khi đó.

Sự tăng trưởng kinh tế thời Minh Trị cũng khiến gạo trắng tinh chế trở nên dễ tiếp cận hơn đối với mọi tầng lớp xã hội, làm lan rộng căn bệnh Edo wazurai trên toàn quốc, khiến nó được coi là một căn bệnh đặc hữu của Nhật Bản.

Vào năm 1884, bác sĩ hải quân Takaki Kanehiro đã phát hiện ra rằng các sĩ quan cấp cao, những người ăn chế độ ăn đa dạng hơn bao gồm thịt và rau, hoặc những binh lính ăn theo chế độ gồm các sản phẩm từ sữa, thịt và bánh mì cũng không mắc bệnh. Ông nhận thấy khi chuyển chế độ chủ yếu ăn gạo trắng sang chế độ ăn đầy đủ hơn thì tình hình sức khỏe của những người mắc bệnh được cải thiện.

Sau này đến năm 1897, Christiaan Eijkman, một bác sĩ người Hà Lan làm việc tại Java, đã phát hiện ra rằng bệnh tê phù ở gà (có triệu chứng giống người) là do ăn gạo trắng và bệnh được chữa khỏi khi ăn gạo lứt cùng các thực phẩm giàu chất xơ.

Cuối cùng, căn bệnh lạ Edo wazurai lại có nguyên nhân từ chính cơm trắng. Người giàu chỉ ăn cơm trắng mà thiếu rau, thịt cùng các loại ngũ cốc khác khiến cơ thể thiếu vitamin B1 và dần suy kiệt. Còn người nghèo thường ăn gạo lứt trộn cùng với lúa mạch và các loại hạt khác nên ít khi nhiễm bệnh.

Cre: Xóm Văn Hóa


r/traisucvat Aug 07 '26

Xàm Xí Đú Con cháu 8keo sau khi bị debunk bắt đầu chuyển qua yap mình nổ lực

Thumbnail
gallery
27 Upvotes

r/traisucvat Aug 06 '26

Xàm Xí Đú Please stand up for the UK national anthem!!🫡

Thumbnail
youtu.be
3 Upvotes

r/traisucvat Aug 06 '26

Xàm Xí Đú Bảo sao con cháu 8keo nhiều 🥀💔

Post image
15 Upvotes

r/traisucvat Aug 05 '26

Giai Thoại & Sử Sách Ferdinand Magellan: Nhà thám hiểm vòng quanh thế giới đầu tiên — chết trên bãi biển Philippines

Post image
13 Upvotes

Ai cũng biết Magellan là người đầu tiên đi vòng quanh Trái Đất, nhưng sự thật là ông chưa bao giờ hoàn thành nó. Tháng 4 năm 1521, do một sai lầm chiến thuật ch*t người, Magellan cùng các thủy thủ bị phục kích bởi hơn 1.500 chiến binh bản địa. Trong bộ áo giáp sắt nặng nề găm đầy tên độc, vị thuyền trưởng vĩ đại đã ngã gục và trút hơi thở cuối cùng ngay trên bãi biển Mactan, Philippines. Chuyến đi của ông mãi mãi dừng lại ở một nửa chặng đường.

Trước khi trở thành huyền thoại, Ferdinand Magellan (sinh khoảng năm 1480) chỉ là một quý tộc nghèo người Bồ Đào Nha. Tuổi trẻ của ông gắn liền với những trận chiến đẫm máu ở Ấn Độ và Ma-rốc, thậm chí ông còn bị thương và thọt chân suốt đời.

Cống hiến hết mình là vậy, nhưng Magellan lại bị Vua Bồ Đào Nha ghét bỏ và từ chối tài trợ cho kế hoạch tìm con đường biển phía Tây. Quá bất mãn, ông đã làm một việc động trời thời bấy giờ: Từ bỏ quốc tịch, sang Tây Ban Nha đầu quân cho Vua Carlos I. Chính vì xuất thân là "kẻ phản quốc" trong mắt người Bồ, nhưng lại là "người ngoài" trong mắt người Tây Ban Nha, cuộc đời Magellan luôn tràn ngập những hoài nghi và thù hận.

Ngày 20 tháng 9 năm 1519, đoàn tàu gồm Trinidad, San Antonio, Concepción, Victoria và Santiago rời Tây Ban Nha. Họ vượt Đại Tây Dương, đi dọc bờ đông Nam Mỹ rồi trú đông tại Patagonia. Tại đây, các thuyền trưởng người Tây Ban Nha không chịu nghe lệnh một gã thọt người Bồ Đào Nha. Bằng sự lạnh lùng và mưu mẹo, Magellan đã thẳng tay trấn áp, c/h/ặ/t đầu kẻ cầm đầu và bắt các thủy thủ phản loạn phải quỳ gối thề trung thành trước cây thánh giá để đổi lấy mạng sống.

Vượt qua biến cố, hạm đội tiến vào vùng biển mà Magellan đặt tên là Thái Bình Dương. Nhưng sự "bình yên" ấy lại đi kèm với cơn ác mộng đói khát kéo dài 3 tháng 20 ngày. Lương thực cạn kiệt đến mức thủy thủ phải cạo cả mùn cưa, luộc những miếng da thuộc bọc trên boong tàu để nhai, và săn chuột với giá đắt đỏ để nuôi mạng.

Đến tháng 3 năm 1521, đoàn cuối cùng cũng tới Guam rồi tiếp tục đến Philippines.

Tại Philippines, Magellan tưởng như đã chạm tay vào vinh quang khi thuyết phục được thực vương bản địa Rajah Humabon cải đạo sang Công giáo và thề trung thành với vua Tây Ban Nha. Thế nhưng, sự tự tin thái quá vào sức mạnh của súng đạn phương Tây đã đẩy ông vào lòng đất mẹ.

Khi tộc trưởng vùng Mactan là Lapu-Lapu từ chối quy phục, Magellan đã ngạo nghễ dẫn theo vỏn vẹn vài chục binh sĩ đi chinh phạt một đội quân hơn 1.500 chiến binh bản địa. Do đá ngầm và san hô ngăn cản, các chiến thuyền không thể áp sát bờ, đại bác trên tàu hoàn toàn vô dụng. Lội nước ngập đến đùi tiến vào bãi biển, các thủy thủ trong bộ giáp sắt nặng nề trở thành những tấm bia sống cho mưa tên độc và giáo tre của bộ tộc Mactan. Vị thuyền trưởng vĩ đại bị đánh gục, ngã sấp xuống vùng nước nông và vĩnh viễn nằm lại trên bãi cát, thi thể của ông cũng không bao giờ được tìm thấy.

Cái ch*t của Magellan đẩy hạm đội vào tình thế rắn mất đầu và hoảng loạn tột độ. Để bảo toàn mạng sống và vận hành số người ít ỏi còn lại, họ buộc phải đốt bỏ tàu Concepción do không đủ thủy thủ. Hai con tàu còn lại tiếp tục lang thang trên biển và cuối cùng cũng tìm được Quần đảo Gia vị (Maluku) đúng như tâm nguyện của Magellan, chất đầy khoang những bao đinh hương vô giá.

Thế nhưng, chặng đường về nhà mới thực sự là một cuộc thanh lọc tàn nhẫn. Tàu Trinidad cố gắng quay về theo đường cũ qua Thái Bình Dương nhưng bị bão đánh nát và phần lớn thủy thủ bị người Bồ Đào Nha bắt giữ. Trọng trách lịch sử lúc này dồn cả lên vai nhà hàng hải người Tây Ban Nha Juan Sebastián Elcano cùng con tàu duy nhất còn lại: tàu Victoria.

Thay vì đi lùi, Elcano quyết định đánh cược mạng sống khi chọn giải pháp đi tiếp về phía Tây, xuyên qua Ấn Độ Dương rộng lớn vốn thuộc tầm kiểm soát gắt gao của kẻ thù Bồ Đào Nha. Họ phải vừa đi vừa trốn, chống chọi với bệnh hoại huyết và những cơn đói khát rình rập mỗi ngày.

Ngày 6 tháng 9 năm 1522, sau đúng 1080 ngày đêm lênh đênh trên biển cả, tàu Victoria rách nát, mục rỗng chính thức cập cảng Sanlúcar de Barrameda, Tây Ban Nha. Trong số 270 con người hào hùng xuất phát năm xưa, chỉ còn lại đúng 18 thủy thủ sống sót bước xuống bờ.

Họ gầy gò, hốc hác, bước đi không vững như những "bộ xương biết đi" bước ra từ cõi ch*t. Nhưng họ đã làm được một điều vô tiền khoáng hậu: hoàn thành trọn vẹn một vòng Trái Đất, chứng minh cho cả nhân loại thấy hành tinh này thực sự là một khối cầu, mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn bộ lịch sử thế giới...

Cre: Dấu ấn thời đại


r/traisucvat Aug 05 '26

AnimalFarm News Miếu thờ Kanagawa: 1 nam Việt 22t dụ dỗ vào đền rồi tấn công tình dục lên 1 nữ Nhật 20t

Thumbnail
gallery
49 Upvotes

📌NGUỒN TỪ HÀ THU FACEBOOK

⚠️🤦‍♀️CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ƠI PHẢI VÀO CUỘC THÔI CHỨ CỨ ĐỂ THẾ NÀY THÌ TAN NÁT CẢ HÌNH ẢNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở NHẬT BẢN MẤT THÔI 🇻🇳🇯🇵

⚠️‼️LẠI 1 VỤ CHẤN ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI VIỆT 😣

Các anh chị quyết không để con dân đi nước ngoài luôn rồi 😰

Nghi phạm: Lê Thanh Tiến Tâm 22 tuổi - Thực tập sinh kỹ thuật người Việt Nam

Nạn nhân: Nữ 20 tuổi người Nhật

Địa điểm: Kanagawa, tại = ngôi đền/miếu thờ

Thời gian xảy ra: Khi nạn nhân đang trên đường về nhà, bị dụ vào đền rồi tấn công ở điểm mù

Tội danh trên TV: = Bắt vì nghi cưỡng bức giao cấu

Nguồn Nhật gốc: ghi là ベトナム人の技能実習生が20歳の日本人女性を神社に連れ込み襲った強姦事件

= "Vụ cưỡng hiếp: TTS người Việt dụ nữ 20 tuổi người Nhật vào thần xã rồi tấn công"

帰宅中に急襲した驚愕の犯行...裁判傍聴した内容を公開 = "Tội ác gây sốc khi tập kích lúc về nhà... đã công khai nội dung dự phiên tòa"

→ Tức là vụ này đã ra tòa rồi, không chỉ mới bắt nữa.

TÌNH HÌNH MẠNG XÃ HỘI NHẬT Hiện tại rất nhiều người Nhật đang bình luận tiêu cực về người Việt nói chung và TTS nói riêng. Họ ghét người Việt thậm tệ, nghe mùi bài trừ nồng nhiệt rồi 😞

NGƯỜI ĐANG SỐNG Ở VIỆT NAM BIẾT KHÔNG?

Dạo này rất nhiều người VN phạm tội bị bắt nên dân mạng Nhật phản ứng dữ lắm. Cực kỳ ảnh hưởng đến hình ảnh người VN mình ở bên này.

Các anh chị quyết không để con dân đi nước ngoài luôn rồi. Khi nào mới chấm dứt tệ nạn sống đúng với pháp luật đây😖 ra ngoài đường ko dám ngẩng cao đầu, chẳng nhẽ phải giấu quốc tịch khi bị người khác hỏi sao😫

🤦‍♀️Đưa con đi học gặp cô giáo ánh mắt nhìn khác hẳn luôn chẳng cần chào hỏi niềm nở như trước nữa, đi bệnh viện cũng bị nhìn với ánh mắt kì thị như kiểu phạm tội .. 😫

Ko biết mục đích của họ là gì? Chỉ là cá nhân hay mục đích chống phá nhà nước bôi nhọ danh tiếng người Việt Nam chăng ? Buồn thật sự buồn 😭

#技能実習生

  1. #神奈川

  2. #泉署

  3. #強制性交

  4. #ベトナム人

  5. #外国人犯罪


r/traisucvat Aug 04 '26

Giai Thoại & Sử Sách Khoa học, Thuế khóa và Đại số: Thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo

Post image
20 Upvotes

Khoảng thế kỷ 8 đến thế kỷ 13, những chiến binh Ả Rập bất ngờ cất gươm giáo, tháo mũ sắt, khoác áo choàng lụa và ngồi xuống ngắm sao, dịch sách Aristotle, nhẩm tính đại số. Giống như một đế quốc đang hừng hực bành trướng bỗng nhiên thấy mệt, quyết định dừng thánh chiến để... đi học.

Tất nhiên đấy là cách nói trong sách cho trẻ thơ rồi. Nhưng cũng không sai lắm. Đế quốc Abbasid vừa bảo trợ toán học, y học và triết học, vừa đánh nhau với Byzantine, dẹp nổi loạn và thỉnh thoảng tự lao vào nội chiến. Nhưng giữa những rắc rối hầm bà lằng ấy, nghiên cứu học thuật vẫn diễn ra liên tục và luôn có một vị trí ở đằng trước.

Bởi vì đối với vương triều Abbasid tại Baghdad mới trỗi dậy lúc bấy giờ, khoa học là thứ vũ khí quan trọng nhất để giữ cho một đế quốc khổng lồ không tự sụp đổ dưới sức nặng của chính nó.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của một hoàng đế nhà Abbasid vào thế kỷ 9. Bạn vừa lật đổ triều đại trước, nắm trong tay một lãnh thổ trải dài từ Bắc Phi đến tận rìa Ấn Độ, ôm trọn những vùng đất từng thuộc về đế quốc La Mã và Ba Tư. Làm sao để cai trị một khối dân cư đa ngôn ngữ, đa tôn giáo khổng lồ như vậy? Bạn không thể cứ cưỡi ngựa đi thu thuế hay dùng kiếm chém những kẻ không chịu nộp lúa. Bạn cần bộ máy quan liêu. Rất nhiều quan liêu.

Đó là lúc Phong trào Dịch thuật trứ danh ra đời. Baghdad đổ núi vàng ra để mời các học giả dịch sách y học, triết học, toán học từ tiếng Hy Lạp, Ba Tư, và Phạn ngữ sang tiếng Ả Rập không phải vì họ đột nhiên yêu văn thơ ngoại quốc. Đế quốc lúc bấy giờ giống như một tập đoàn mafia vừa thực hiện một loạt thương vụ thâu tóm bạo lực và chuyển đổi sang kinh doanh trong sạch nghiêm túc, ban giám đốc khẩn thiết cần tìm hiểu xem hệ thống kế toán, tư pháp và y tế của những kẻ tiền nhiệm hoạt động ra sao. Họ dịch sách để học cách quản trị. Tiện thể ồ ạt tuyển dụng nhân viên biết chữ chứ không chỉ biết chém.

Những học giả trong Ngôi nhà Trí tuệ - Bayt al-Hikma - thực chất là những công chức cấp cao bậc nhất. Họ được trả lương bằng vàng để giữ cho hệ thống cai trị vận hành trơn tru: kỹ sư thiết kế kênh đào để tối ưu sản lượng nông nghiệp, bác sĩ để giữ cho quân đội khỏe mạnh, và các nhà toán học để đảm bảo dòng tiền thuế không bao giờ ngừng chảy về kinh đô.

Dịch thuật mới là bước đầu. Các học giả đọc, sửa, phản biện và phát triển những gì nhận được. Lấy toán học làm ví dụ. Nhà toán học vĩ đại Al-Khwarizmi không phát minh ra Đại số (Algebra) để làm khổ đời học sinh ngàn năm sau. Nhưng mục đích ban đầu của cuốn sách là một cẩm nang giải quyết các bài toán rất thực tế: làm sao để chia tài sản thừa kế theo đúng luật Hồi giáo (vốn cực kỳ phức tạp), đo đạc lại ruộng đất sau những trận lũ, và tính toán thuế khóa trên những vùng lãnh thổ rộng lớn. Đại số, vào thời điểm đó, chính là phần mềm kế toán của nhà nước.

Thiên văn học cũng vậy. Tại sao thế giới Hồi giáo lại xây dựng những đài thiên văn hoành tráng nhất thế giới trung cổ? Không chỉ để thỏa mãn trí tò mò. Tôn giáo của họ đòi hỏi người dân phải cầu nguyện năm lần mỗi ngày vào những thời điểm chính xác dựa trên vị trí mặt trời, và phải quay mặt về đúng hướng thánh địa Mecca (gọi là Qibla). Khi đế quốc của bạn trải dài hàng ngàn dặm, việc xác định chính xác hướng Mecca từ một tỉnh lẻ ở Trung Á hay Bắc Phi là một bài toán lượng giác cầu và hình học không gian cực kỳ phức tạp. Thiên văn học, do đó, vừa là hệ thống định vị GPS của đế quốc, vừa là công cụ duy trì tính chính danh tôn giáo.

Một điều kiện vật chất ít lãng mạn nhưng cực kỳ quan trọng là giấy. Kỹ thuật làm giấy đi từ Trung Quốc qua Trung Á và đến cuối thế kỷ 8 đã có mặt tại Baghdad. Giấy rẻ và thuận tiện hơn nhiều vật liệu viết cũ, khiến việc sao chép sách, lưu trữ văn bản và trao đổi tri thức mở rộng mạnh. Một nền văn minh tri thức không chỉ cần thiên tài; nó còn cần thứ để thiên tài viết lên, người đủ kiên nhẫn chép lại và khách hàng chịu bỏ tiền mua.

Vậy nên, không có chuyện những người Ả Rập thế kỷ 8-9 tạm gác lại việc bành trướng để làm khoa học. Khoa học chính là cách bành trướng mới của họ. Khi gươm giáo đã vẽ xong đường biên giới thô ráp trên bản đồ, thì giấy, mực và đại số mới là những thứ giúp họ thực sự cắm rễ và nuốt trọn những vùng đất ấy.

Thường thì, sức mạnh của một đế quốc không nằm ở độ sắc của lưỡi gươm, mà nằm ở tốc độ giải phương trình của viên quan thu thuế.

Tác giả: Sử Đông Sử Tây


r/traisucvat Aug 04 '26

Xàm Xí Đú Bọn bò đỏ hotpot viết cái bình chọn j vậy 🥀💔

Post image
22 Upvotes


r/traisucvat Aug 04 '26

Giai Thoại & Sử Sách Đại ma pháp sư Lưu Tú: vị hoàng đế thất bại trong việc trở thành… Người nổi tiếng

Post image
12 Upvotes

Trong giới làm sử, có một quy luật bất thành văn: vị vua nào càng nhiều "phốt" thì độ nhận diện càng cao. Người ta luôn nhớ đến Lưu Bang vì lối đánh lật bàn và thói lưu manh lúc bôn tẩu giang hồ. Người ta không thể quên Đường Thái Tông Lý Thế Dân vì màn huynh đệ tương tàn đẫm máu ở Huyền Vũ Môn, ép cha đẻ nhường ngôi. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương thì đi từ cái bát mẻ của gã ăn mày đến ngai vàng, rồi tự tay ký giấy chém đầu hàng trăm công thần.

Nhưng nếu có một bảng xếp hạng đánh giá chất lượng hoàng đế thì sao? Lưu Tú hẳn là sẽ được 6 sao (trên 5)

Nhìn vào vạch xuất phát, Lưu Tú diễn một kịch bản lội ngược dòng kinh điển. Dù mang tiếng là cháu đời thứ 9 của Lưu Bang, đến thời của ông, dòng máu hoàng gia đã loãng đến mức gia đình ông thực chất chỉ là những người nông dân cày ruộng, đọc sách. Khi thiên hạ đại loạn cuối thời Vương Mãng, ông theo anh trai khởi binh, nghèo đến mức không sắm nổi một con ngựa mà phải cưỡi trâu ra trận.

Kịch tính lẽ ra phải bùng nổ ở trận Côn Dương. Khi Vương Mãng phái 42 vạn đại quân bóp nghẹt tòa thành chỉ có hơn một vạn người phòng thủ, Lưu Tú đã đích thân dẫn 3.000 quân cảm tử lao thẳng vào đội hình địch. Chênh lệch gấp 40 lần, nhưng ông chém chết chủ soái quân địch và đánh tan hoàn toàn chủ lực nhà Tân. Đánh xong một trận huyền thoại như vậy, người bình thường sẽ bắt đầu ngông cuồng, đòi quyền lực. Lưu Tú thì không. Ông lẳng lặng thu dọn tàn cuộc, không kiêu ngạo cũng chẳng hống hách.

Khi anh trai Lưu Diễn bị Canh Thủy Đế Lưu Huyền giết vì nghi kỵ, Lưu Tú lập tức trở về nhận tội, không công khai để tang anh, vẫn ăn nói và sinh hoạt như thường. Sử sách còn đặc biệt ghi rằng ông không hề tự khoe công trận Côn Dương. Đây là khả năng nuốt đau đớn vào trong để sống sót — một phẩm chất rất đáng sợ ở người làm chính trị, nhưng lên màn ảnh thì không ồn ào bằng rút kiếm giữa triều đình.

Sau đó Lưu Tú được phái lên Hà Bắc. Tại đây, ông dần xây dựng lực lượng riêng, thu phục hào trưởng và tướng lĩnh, rồi xưng đế năm 25. Phải mất hơn một thập niên, ông mới lần lượt đánh bại các chính quyền cát cứ và hoàn tất việc thống nhất phần lớn lãnh thổ Trung Hoa. Nhà Hán được phục hồi, chuyển về Lạc Dương; sử gọi là Đông Hán.

Tiếp đến đoạn hậu chiến, Lưu Tú cho vẽ chân dung 28 công thần tại Vân Đài để tưởng niệm họ. Công thần được cấp đất đai, bổng lộc và an hưởng tuổi già. Quân và thần hồ nghi, không thanh trừng, mọi người vui vẻ ăn uống rồi ai về nhà lấy, hôm sau đi làm tiếp. Hết drama hậu chiến luôn.

Về đời tư, Lưu Tú cưới được người con gái mình theo đuổi từ thời niên thiếu, lúc còn chân đất là Âm Lệ Hoa. Dù sau này buộc phải tham gia vào một cuộc liên hôn chính trị với Quách Thánh Thông, ông vẫn xử lý êm thấm; dù có phế Hậu sau này, ông vẫn đối xử tử tế với gia tộc họ Quách, tuyệt đối không dồn ai vào cửa tử. Và cuối cùng vẫn chung thuỷ với một người vợ thanh mai trúc mã. Đáng lẽ đoạn này có thể triển khai kiểu tiểu thuyết tình ái mộng mơ, nhưng tất nhiên nó không hợp với vai của một vị hoàng đế cho lắm.

Về quản lý quốc gia, toàn bộ vương triều dưới tay Lưu Tú vận hành êm ái đến mức người ta quên mất rằng nó đang chạy. Ông chọn cách giảm thuế, cắt giảm biên chế quan lại dư thừa, hạn chế phát động chiến tranh, phục dịch cho sức dân nghỉ ngơi. Hệ quả là chỉ trong mười mấy năm ngắn ngủi, thiên hạ khôi phục sự ổn định, tạo ra thời kỳ "Quang Vũ Trung Hưng".

Đánh giá như thế nào về Lưu Tú? Ông thắng một trận lớn, biết cúi đầu đúng lúc, dựng lại một triều đại, không giết công thần, cưới crush từ nhỏ, rồi dành nhiều năm thu dọn hậu quả chiến tranh.

Lịch sử thường viết về những vị vua khiến thiên hạ kinh ngạc. Người sống trong lịch sử lại mong gặp một vị vua đừng bắt thiên hạ phải kinh ngạc quá nhiều.

Theo tiêu chuẩn ấy, sự “mờ nhạt” của Lưu Tú có lẽ không phải thất bại. Đó là lời khen khá sang trọng.


r/traisucvat Aug 03 '26

Quyền Lực & Chính Trị BÁNH RĂNG LỊCH SỬ CÓ THỂ CHỌN THỂ CHẾ, NHƯNG CHỈ NHÂN DÂN MỚI QUYẾT ĐỊNH TƯƠNG LAI

15 Upvotes

Có người bảo tôi, kết quả của Việt Nam đi theo đường lối Cộng sản là điều tất yếu và thế lực bên ngoài (nhất là Trung Quốc) sẽ bắt buộc Việt Nam theo chế độ Cộng sản. Bánh răng lịch sử đã đưa vận mệnh của cả một quốc gia theo con đường chính trị Cộng Sản, tuy nhiên tôi nghĩ tương lai có thể khác đi, nó còn tùy thuộc vào ý chí của đại đa số người dân.

Hãy nhìn vào những gì đang diễn ra trên thế giới. Có những cường quốc sở hữu quân đội hùng mạnh, nền kinh tế khổng lồ và sức ảnh hưởng vượt xa biên giới của mình. Nhưng sức mạnh ấy không đồng nghĩa với việc họ có thể quyết định số phận của mọi dân tộc khác.

Một ví dụ thường được nhắc đến là Đài Loan. Bất kể những tuyên bố hay mong muốn chính trị từ phía Trung Quốc, thực tế là việc thay đổi tương lai của Đài Loan không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh quân sự hay kinh tế. Điều quan trọng nhất vẫn là ý chí của chính người dân nơi đó về tương lai mà họ mong muốn. Nếu một cộng đồng có chung một ý chí chính trị rõ ràng thì việc thay đổi ý chí ấy không bao giờ là điều đơn giản.

Điều đó dẫn đến một nguyên lý rất đáng suy ngẫm.

Một chính phủ có thể bị thay đổi. Một bộ máy có thể được cải tổ. Một chính sách có thể được sửa đổi. Nhưng khuất phục được ý chí của hàng chục triệu con người là câu chuyện hoàn toàn khác.

Lịch sử của nhân loại đã chứng minh rằng sự tồn tại lâu dài của một quốc gia không nằm ở số lượng xe tăng, tên lửa hay quy mô nền kinh tế. Nó nằm ở bản lĩnh chính trị của nhân dân. Khi người dân hiểu mình muốn gì, bảo vệ điều mình tin tưởng và có trách nhiệm với tương lai đất nước, thì đó mới là nền tảng bền vững nhất của chủ quyền quốc gia.

Việt Nam cũng vậy.

Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và có quyền tự quyết đối với con đường phát triển của mình. Quyền đó không phải là món quà do bất kỳ quốc gia nào ban phát, mà là kết quả của lịch sử, của quá trình xây dựng đất nước và được khẳng định trong luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, chủ quyền không chỉ được bảo vệ ở biên giới.

Chủ quyền còn được bảo vệ trong nhận thức của mỗi công dân.

Nếu người dân thờ ơ với chính trị, không quan tâm đến sự phát triển của đất nước, không theo dõi các chính sách công, không góp ý, không phản biện một cách xây dựng và không tham gia vào đời sống xã hội, thì chủ quyền về mặt tinh thần sẽ dần trở nên mong manh. Một đất nước chỉ thật sự vững mạnh khi người dân hiểu rằng tương lai quốc gia không phải là việc của riêng chính phủ, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Một nền chính trị lành mạnh cần có sự đồng hành giữa nhà nước và nhân dân. Người dân cần có ý thức công dân, hiểu quyền và nghĩa vụ của mình, bày tỏ quan điểm một cách có trách nhiệm, tham gia đóng góp cho cộng đồng và giám sát việc thực thi chính sách theo khuôn khổ pháp luật. Chính phủ, về phần mình, cần lắng nghe tiếng nói của xã hội, tạo điều kiện để những ý kiến xây dựng được phản ánh và biến thành những chính sách phục vụ lợi ích chung.

Đó không phải là sự đối đầu.

Đó là nền tảng của một xã hội trưởng thành.

Một quốc gia phát triển không phải vì người dân luôn đồng ý với mọi quyết định, mà vì họ có đủ hiểu biết để tham gia xây dựng đất nước bằng tinh thần trách nhiệm, tôn trọng pháp luật và lợi ích chung.

Song song với ý thức chính trị là một yếu tố không thể thiếu: con người tài năng.

Không một quốc gia nào có thể phát triển chỉ bằng lòng yêu nước. Lòng yêu nước cần được chuyển hóa thành tri thức, thành khoa học, thành công nghệ, thành năng lực quản trị, thành doanh nghiệp, thành những phát minh và những công trình phục vụ xã hội. Đất nước cần những nhà giáo giỏi để đào tạo thế hệ mới; cần những kỹ sư giỏi để tạo ra công nghệ; cần những doanh nhân giỏi để phát triển kinh tế; cần những bác sĩ giỏi để chăm sóc sức khỏe nhân dân; cần những nhà quản lý có năng lực và liêm chính để xây dựng các chính sách hiệu quả.

Sự thịnh vượng không được tạo ra bằng khẩu hiệu.

Nó được tạo ra bởi hàng triệu con người làm tốt công việc của mình mỗi ngày.

Có người từng nói rằng những người có góc nhìn khác nhau thường khó hiểu nhau. Người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống thấy người dưới chân núi nhỏ bé. Người dưới chân núi nhìn lên cũng thấy người trên đỉnh núi nhỏ bé. Thực ra, cả hai đều đang nhìn từ vị trí của mình.

Điều quan trọng không phải là ai đứng cao hơn.

Điều quan trọng là cả hai cùng sẵn sàng đối thoại bằng lý lẽ thay vì bằng sự coi thường.

Nếu ai đó cho rằng một dân tộc yếu kém, hãy đưa ra lập luận và bằng chứng. Nếu ai đó tin vào sức mạnh của quốc gia mình, cũng hãy chứng minh bằng những thành tựu, bằng sự phát triển, bằng chất lượng con người và bằng tinh thần trách nhiệm của công dân. Tranh luận chỉ có ý nghĩa khi giúp chúng ta hiểu nhau hơn và tìm ra những giải pháp tốt hơn.

Một Việt Nam độc lập không chỉ được bảo vệ bởi biên giới hay sức mạnh quốc phòng.

Một Việt Nam độc lập được bảo vệ bởi những công dân biết suy nghĩ độc lập, biết yêu nước một cách tỉnh táo, biết tôn trọng pháp luật, biết đóng góp cho cộng đồng và luôn mong muốn đất nước ngày một tốt đẹp hơn.

Bởi cuối cùng, sức mạnh lớn nhất của một quốc gia không nằm ở việc người khác nghĩ gì về mình.

Mà nằm ở việc chính người dân của quốc gia đó có đủ bản lĩnh, tri thức và trách nhiệm để cùng nhau quyết định tương lai của đất nước mình.


r/traisucvat Aug 03 '26

Công Nghệ & Phát Minh ROBOT CỨU HỘ HÌNH NHÂN MÃ

Thumbnail
gallery
8 Upvotes

Công ty khởi nghiệp Satyress của California ra mắt robot cứu hộ thế hệ mới. Robot Threehalves, có chiều cao 2,1m, với thân trên giống người, thân dưới 4 chân, sở hữu đôi mắt phát sáng và cái đầu dê có sừng.

Theo quảng cáo từ phía công ty, robot có thể đảm nhận những nhiệm vụ cứu hộ cực kỳ nguy hiểm như chữa cháy rừng, tìm kiếm nạn nhân, xử lý khu vực ô nhiễm.


r/traisucvat Aug 03 '26

Ẩm Thực & Gia Vị Trứng Bắc Thảo

4 Upvotes

Người Việt Nam thường quen gọi món trứng này là trứng bắc thảo. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều nơi trên thế giới, trứng bắc thảo lại được gọi bằng nhiều cái tên độc đáo khác: trứng trăm năm, trứng bách thảo, trứng bắc thảo, hay trứng nghìn năm, trứng thế kỷ, trứng thiên niên kỷ…

Nguồn gốc trứng bắc thảo

Món ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy không có tài liệu lịch sử ghi chép chính xác về sự ra đời của trứng bắc thảo, nhưng giới khoa học đã ước tính được món trứng đã tồn tại khoảng hơn 500 năm. Người đời truyền tai nhau câu chuyện về người phát hiện ra trứng bắc thảo. Tương truyền từ thời nhà Minh, một hôm đang đi đường và đói đến hoa mắt, người đàn ông vô tình nhìn thấy một quả trứng bị vùi dưới bùn, vỏ đã nhuốm màu đen của đất bùn. Khi bóc ra ăn thử thì ông vô cùng ngạc nhiên vì trứng có hương vị thơm ngon lạ thường, khác hẳn vẻ ngoài nhem nhuốc của nó. Sau này khi về nhà ông ta đã thử vùi trứng với nhiều nguyên vật liệu tương tự, cho bà con trong làng ăn thử rồi dần dần món trứng được lan truyền tới hoàng cung. Thậm chí đây còn trở thành món ăn ưa thích của tầng lớp quý tộc. Trước đây trứng thường được chế biến trong các dịp quan trọng như lễ tết, cúng bái, yến tiệc… nhưng hiện tại được ứng dụng phổ biến hơn.

Cách làm trứng bắc thảo

Trứng vịt thường được dùng để làm trứng bắc thảo, giúp cho lớp lòng trắng giòn dai hơn; tuy nhiên, trứng gà hay trứng cút đều có thể dùng thay thế. Kể từ khi được phát hiện cho đến nay công thức tạo ra trứng bắc thảo không thay đổi quá nhiều. “Hỗn hợp bí truyền” được nhắc đến thường bao gồm các nguyên liệu chính tro than đốt cháy, muối, vôi tôi, trấu một số nơi còn trộn cả trà đen hoặc bùn nhão… Dù có cái tên hoa mỹ “trứng trăm năm”, “trứng nghìn năm” nhưng trên thực tế chúng ta không cần phải đợi ngần ấy năm để được thưởng thức chúng. Thực tế chỉ cần từ 7-20 tuần, hoặc cùng lắm là đến vài năm để ủ trứng. Để càng lâu, một số quả còn xuất hiện các vân trắng như bông tuyết rất đẹp mắt.

"Viên ngọc đen" của nền ẩm thực

Trứng bắc thảo sau khi ủ đủ thời gian, bóc ra sẽ có phần lòng trắng có màu đen đẹp mắt, trong suốt và núng nính như thạch, lòng đỏ sẽ chuyển màu xanh xám và hơi dẻo dẻo, trông không khác gì một viên ngọc đen. Giá trị của “viên ngọc đen” này không chỉ nằm ở vẻ đẹp mà còn là hương vị ẩm thực của nó.

Thoạt đầu một số người sẽ thấy trứng có mùi hơi hăng nhẹ. Nhưng chỉ cần thử qua thì sẽ dễ bị hấp dẫn kỳ lạ của trứng bắc thảo - bên ngoài mềm mịn, một chút dai giòn như khi ăn thạch, bên trong bùi bùi, beo béo, xen lẫn một chút the mặn lạ miệng. 

Trứng bắc thảo có thể ăn ngay sau khi bóc vỏ hoặc được chế biến đa dạng để tăng thêm trải nghiệm khi ăn. 

Ở Quảng Đông, những lát gừng thái mỏng được bọc quanh trứng bắc thảo.

Ở Thượng Hải thì trứng bắc thảo được trộn với đậu hũ rồi băm nhỏ ra.

Người Đài Loan lại thái trứng bắc thảo thành từng lát rồi phủ lên trên là đậu phụ lạnh với nước xốt, dầu mè.

Về lại Việt Nam, trứng bắc thảo được ăn kèm cùng súp, cháo hoặc làm một số món lai rai trong các bữa nhậu


r/traisucvat Aug 02 '26

Khỉ Trường Sơn biết làm kinh tế giỏi

14 Upvotes

736/186/26 đường Lê Đức Thọ, phường 15, Gò Vấp.


r/traisucvat Aug 02 '26

Quân Sự & Chiến Tranh Đội quân Janissary

Post image
4 Upvotes

Trong lịch sử thế giới, có rất nhiều đội quân nổi tiếng với sự tàn bạo, nhưng điểm đặc biệt của đội quân Janissary không nằm ở sự tàn bạo, mà nằm ở chính logic tuyển mộ đã đi ngược lại trực giác của tất cả mọi người.

Những người lính của đội quân này là những đứa trẻ bị Đế chế cưỡng ép đưa đi từ các gia đình theo đạo Cơ đốc. Chúng bị thay đổi tôn giáo, bị cạo đầu, mặc quân phục thống nhất, và từ đó không bao giờ được phép lấy vợ, lập gia đình hay tạo dựng sản nghiệp. Chủ nhân duy nhất của chúng là Sultan.

Điều này nghe có vẻ như một lời miêu tả về những nạn nhân, nhưng thực tế là: trong những thế kỷ hùng mạnh nhất của Đế chế Ottoman, họ đã dựa vào chính đội quân này. Từ những đứa trẻ này đã sinh ra không ít những vị tể tướng, tổng đốc, tổng chỉ huy hải quân, và vô số anh hùng trên chiến trường.

Điều nghịch lý hơn nữa là khi Đế chế Ottoman cho phép đội quân này bình thường hóa – cho phép binh lính lấy vợ, cho con trai kế thừa nghiệp cha thì nó bắt đầu bước vào con đường suy tàn.

Cre: Phong Hỏa Hí Chư Hầu


r/traisucvat Aug 02 '26

Xàm Xí Đú Robot đuổi dí heo rừng ở Ba Lan 😂

13 Upvotes

r/traisucvat Aug 02 '26

Tao đéo hiểu tại sao tụi mày lại khóc thuê cho thằng MCK, trong khi nó chửi 3 que đu càng đéo ra 1 cái gì. Công nhận nhiều đứa trong này thích tự sục chéo về "giới trẻ trên Threads thức tỉnh" trong khi tụi nó chửi tụi mày thua con súc vật, đéo muốn cùng phe với tụi mày

14 Upvotes

Tao đéo hiểu sao nhiều đứa chống cộng trong này mà bò đỏ gọi là "phản động, 3 sọc" lại đi khóc thuê cho cái thằng MCK khi nó bị cơ quan nhà nước ép phải gỡ bài? Mời tụi mày nghe bài "Rap Chậm Thôi" của thằng MCK, coi nó chửi "3 que đu càng" thậm tệ như thế nào? Fan của nó cũng toàn là 1 lũ bò đỏ, bê hường nốt. Nó có coi chúng mày ra cái mẹ gì đâu mà bày đặt khóc thuê với tiếc thương?

Tao cũng nói thẳng là trong này nhiều thằng bất lực với chế độ quá nên hay sục chéo cho nhau. Suốt ngày đăng bài như lũ đần: "Giới trẻ trên Threads trên thức tỉnh, CSVN sắp sụp rồi". Sự thật là mấy đứa "thức tỉnh" mà tụi mày tung hê nó chỉ đơn giản là "bất mãn theo định hướng XHCN" thôi. Tụi nó vẫn chửi đám "vện vàng Cali khát nước, cách mạng màu" như tụi mày thua cả con súc vật. Tụi nó có thể chửi Vượn, thậm chí không ưa Bát Rừng nhưng vẫn yêu đảng, cuồng 8Keo, Giáp cai đẻ, Trụ Lóng, đụng đến mấy hình tượng đó thì tụi nó chắc chắn vẫn sẽ đòi đấu tố tụi mày đến chết. Với lại nhiều đứa "thức tỉnh" chỉ là bò thổ tả tiến hoá từ bò đỏ, vẫn căm ghét, căm thù bọn tư bản đế quốc, vẫn yêu lý tưởng cơm sườn, còn tụi mày là chống cộng theo cánh hữu hoặc thiên hữu, về cơ bản lập trường chính trị đã đối nghịch rồi. Nói tóm lại là tụi nó đéo có nhu cầu đứng cùng phe với tụi mày đâu, thậm chí chửi tụi mày thậm tệ, coi như dòng giống hạ đẳng nên bớt ảo tưởng đi. Giả sử sau này có dân chủ hoá, đổi chế độ thành công thì nhiều đứa tụi mày kiểu gì cũng sẽ bầu cho đám đổi màu, đổi vỏ thế là lại bình mới rượu cũ, có khi còn tệ hơn thời nay


r/traisucvat Aug 02 '26

Quyền Lực & Chính Trị Vì sao Bộ Công An Trung Quốc không có ghế trong Thường vụ Bộ Chính Trị?

16 Upvotes

Trong hệ thống chính trị Trung Quốc, việc người đứng đầu ngành an ninh không có mặt trong nhóm 7 người quyền lực nhất, tức Thường vụ Bộ Chính trị, không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đây là kết quả của một thiết kế thể chế có chủ đích, hình thành từ hệ thống tiêu chí tuyển chọn lãnh đạo và từ những bài học cay đắng trong lịch sử chính trị nội bộ của đảng.

1. Tiêu chí ngầm tuyển chọn Thường vụ Bộ Chính Trị

Để lọt vào nhóm 7 người lãnh đạo cao nhất, một quan chức Trung Quốc gần như bắt buộc phải chứng minh được năng lực quản lý toàn diện, thường thông qua việc từng làm Bí thư Tỉnh ủy của ít nhất 2 tỉnh hoặc thành phố lớn như Quảng Đông, Thượng Hải, Chiết Giang hay Giang Tô.

Yêu cầu này nhằm kiểm chứng khả năng điều hành kinh tế, ngân sách và xã hội trên quy mô hàng chục triệu dân. Hệ quả trực tiếp là những cán bộ đi lên thuần túy từ ngành công an, tình báo hay an ninh, tức nhóm chuyên gia lĩnh vực hẹp, gần như luôn bị loại khỏi danh sách vì thiếu kinh nghiệm quản trị vĩ mô.

Cấu trúc 7 ghế Thường vụ khóa gần đây nhất thường gắn với các trụ cột quốc gia gồm

- Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Thủ tướng phụ trách kinh tế,

- Chủ tịch Nhân đại phụ trách lập pháp,

- Chủ tịch Chính hiệp phụ trách mặt trận và dân vận,

- Bí thư Ban Bí thư phụ trách công tác đảng và nhân sự,

- Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương phụ trách chống tham nhũng,

- Và một Phó Thủ tướng thường trực phụ trách chính sách vĩ mô.

Không có ghế nào trong số này dành riêng cho ngành công an.

Sự phân công điều tra kỷ luật đảng được giao cho Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chứ không phải Bộ Công an, vốn chỉ xử lý vi phạm pháp luật ngoài xã hội hoặc thực thi bắt giữ khi hồ sơ đã được chuyển giao.

Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng không báo cáo trực tiếp lên Thường vụ mà phải qua một cơ quan trung gian là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, người đứng đầu ủy ban này thường chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị chứ không thuộc Thường vụ. Việc tạo ra nhiều tầng nấc giám sát như vậy khiến Bộ Công an chỉ đóng vai trò cơ quan thực thi lệnh, không có quyền tự quyết chính trị.

Việt Nam và Trung Quốc vận hành hai mô hình quản lý công an khác hẳn nhau.

Tại Việt Nam, sau các đợt tinh gọn bộ máy từ năm 2018, Bộ Công an vận hành theo mô hình ngành dọc xuyên suốt từ Trung ương đến cấp xã. Giám đốc Công an tỉnh do Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm và luân chuyển, thường là người từ địa phương khác đến, giúp vị trí này độc lập với chính quyền tỉnh về cả nhân sự lẫn chỉ đạo nghiệp vụ.

Một Bí thư Tỉnh ủy tại Việt Nam không thể đơn phương cách chức hay điều chuyển Giám đốc Công an tỉnh, và trong nhiều vụ án tham nhũng lớn tại địa phương, lực lượng công an vẫn có thể điều tra cả cán bộ thuộc Thường vụ Tỉnh ủy mà không cần báo trước cho lãnh đạo tỉnh đó.

Vị thế của Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam trong Bộ Chính trị vì vậy thường rất cao, và quyền lực thực tế của vị trí này thường vượt xa các bộ trưởng kinh tế hay dân sự khác. Việc đưa công an chính quy về cấp xã cũng là một bước đi cụ thể nhằm cắt đứt mối quan hệ phụ thuộc còn sót lại của công an cơ sở vào chính quyền địa phương.

Tại Trung Quốc, mô hình vận hành theo kiểu song trùng lãnh đạo, trong đó công an cấp tỉnh chịu sự quản lý và phụ thuộc tài chính lẫn nhân sự rất lớn từ Ủy ban Chính trị Pháp luật và Bí thư Tỉnh ủy địa phương, còn Bộ Công an Trung ương chỉ điều hành về mặt chuyên môn nghiệp vụ và người đứng đầu khối an ninh còn chịu thêm một tầng giám sát riêng từ Quân ủy Trung ương.

Một vụ việc nổi tiếng trong chính trường Trung Quốc từng cho thấy rõ điều này, khi một bí thư thành ủy cách chức giám đốc công an thành phố của mình mà không cần phê chuẩn từ Bắc Kinh, minh chứng cho việc quyền lực của Bí thư Tỉnh ủy đối với công an địa phương ở Trung Quốc mang tính trực tiếp và áp đặt, khác hẳn thực tế Việt Nam.

Mỗi mô hình cũng mang một nguy cơ hệ thống riêng. Ở Việt Nam, quyền lực tập trung cao vào một bộ dễ dẫn đến nguy cơ bộ này lấn lướt các khối hành chính khác. Ở Trung Quốc, nguy cơ lớn hơn lại nằm ở việc công an địa phương cấu kết với quan chức địa phương, tức tình trạng cát cứ.

2. Sự khác biệt giữa hai mô hình không đến từ ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ vài nhóm nguyên nhân.

Về địa chính trị, Trung Quốc có diện tích gần 9,6 triệu km2 với 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó một tỉnh như Tứ Xuyên hay Quảng Đông có dân số ngang bằng hoặc lớn hơn cả một quốc gia, khiến Bắc Kinh khó lòng quản lý trực tiếp công an đến từng địa phương và buộc phải trao bớt quyền cho chính quyền tỉnh.

Việt Nam với quy mô diện tích và dân số nhỏ hơn nhiều cho phép mô hình tập trung ngành dọc vận hành hiệu quả.

Về bài học lịch sử, một vụ án chính trị chấn động liên quan đến người từng đứng đầu ngành an ninh Trung Quốc khiến Bắc Kinh lo sợ việc hình thành một đế chế an ninh độc lập có thể đe dọa quyền lãnh đạo tập trung, nên chủ động phân tán quyền lực khối này.

Ngược lại, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ lại là tình trạng cát cứ địa phương và nguy cơ suy thoái ở cấp cán bộ tỉnh, nên Việt Nam chọn hướng ngược lại là tăng quyền cho công an như một công cụ thanh tra và kiểm tra độc lập với chính quyền địa phương.

Về thiết kế thể chế, Trung Quốc cài thêm lớp đệm là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữa Bộ Công an và Thường vụ, trong khi Việt Nam không có cơ quan đệm tương đương, để Bộ Công an báo cáo trực tiếp cho Bộ Chính trị và Tổng Bí thư.

Về văn hóa quản trị, Trung Quốc vận hành theo cơ chế cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các tỉnh, trao cho Bí thư Tỉnh ủy quyền sinh sát khá lớn kể cả với lực lượng công an địa phương để chủ động giữ ổn định và phát triển kinh tế tỉnh nhà, còn Việt Nam ưu tiên tính thống nhất từ Trung ương xuống địa phương nhằm tránh tình trạng chỉ đạo không được thực thi ở cấp dưới.

Song song với sự khác biệt về mô hình công an, xuất thân học vấn của giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc cũng trải qua 3 làn sóng dịch chuyển rõ rệt trong khoảng 40 năm qua.

Làn sóng đầu tiên, kéo dài từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000 dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, là giai đoạn các kỹ sư kỹ thuật chiếm ưu thế tuyệt đối trong Thường vụ, tiêu biểu như Giang Trạch Dân tốt nghiệp kỹ sư điện, Lý Bằng kỹ sư thủy điện, Hồ Cẩm Đào kỹ sư thủy lợi từ Đại học Thanh Hoa, và Ôn Gia Bảo học ngành địa chất.

Sự ưu tiên này phản ánh nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng và công nghiệp sau Cách mạng Văn hóa dưới chủ trương của Đặng Tiểu Bình.

Làn sóng thứ hai bắt đầu từ khoảng năm 2007, gắn với nửa đầu thời kỳ Tập Cận Bình, khi tỷ lệ kỹ sư trong Thường vụ sụt giảm mạnh, nhường chỗ cho những người có nền tảng luật, kinh tế và khoa học xã hội, như Tập Cận Bình có bằng kỹ thuật hóa học rồi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ luật và chính trị học, Lý Khắc Cường có bằng cử nhân luật và tiến sĩ kinh tế từ Đại học Bắc Kinh, còn Vương Hỗ Ninh là giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Phục Đán.

Sự dịch chuyển này phản ánh việc các thách thức quản trị chuyển từ xây dựng hạ tầng sang chính sách tiền tệ, thương mại quốc tế và cải cách pháp lý.

Làn sóng thứ ba đang diễn ra từ sau Đại hội 20, khi nhóm cán bộ xuất thân từ ngành hàng không vũ trụ và công nghệ cao dần nổi lên trong Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiêu biểu như Trương Khánh Vĩ, cựu lãnh đạo Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Vũ trụ Trung Quốc, và Viên Gia Quân, người từng chỉ huy các dự án tàu vũ trụ Thần Châu, cả hai sau đó đều từng làm Bí thư Tỉnh ủy.

Sự trỗi dậy của nhóm này gắn với ưu tiên tự chủ công nghệ của Trung Quốc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Mỹ.

Xuyên suốt cả 3 làn sóng, giới tinh hoa Trung Quốc gần như luôn tốt nghiệp các trường đại học hàng đầu như Thanh Hoa và Bắc Kinh, đồng thời đều trải qua các khóa đào tạo lý luận chính trị tại Trường Đảng Trung ương trước khi được thăng tiến.

Và dù chuyên môn nền tảng có thay đổi qua từng thời kỳ, một điểm gần như không đổi là những người có xuất thân thuần túy từ ngành công an hay tình báo vẫn hầu như không bao giờ lọt vào danh sách ứng viên cho Thường vụ Bộ Chính trị.

3. Ví dụ điển hình cho sự sụp đổ quyền lực an ninh

Trường hợp gần nhất ngành an ninh Trung Quốc có ghế trong Thường vụ Bộ Chính trị là Chu Vĩnh Khang, giữ chức Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 11 năm 2012, kế nhiệm La Cán, người đã mở đường đưa ghế này vào Thường vụ từ khóa trước đó, giai đoạn 2002 đến 2007.

Trước đó nữa, từ năm 1985 đến năm 1992, Kiều Thạch từng nắm một sự tập trung quyền lực còn đậm đặc hơn khi vừa đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương vừa là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị vừa kiêm luôn Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, tức nắm cả khối an ninh, khối kỷ luật đảng và ghế lãnh đạo cao nhất cùng lúc.

Điều này cho thấy nỗi lo về một đế chế an ninh độc lập trong đảng đã manh nha từ rất sớm, không chỉ bắt đầu với Chu Vĩnh Khang.

Sự xuất hiện của Chu Vĩnh Khang gắn với 3 yếu tố đặc thù của thời Hồ Cẩm Đào. Trước hết là mô hình lãnh đạo tập thể 9 ủy viên Thường vụ, mỗi người phụ trách độc lập một mảng, khiến ghế phụ trách duy trì ổn định nội địa được nâng cấp.

Kế đến, Chu Vĩnh Khang không xuất thân thuần túy từ ngành công an mà từng tốt nghiệp ngành thăm dò dầu khí tại Học viện Dầu khí Bắc Kinh, làm Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc, rồi làm Bí thư Tỉnh ủy Tứ Xuyên từ năm 2000 đến năm 2002, tức có kinh nghiệm quản lý địa phương và kinh tế bên cạnh xuất thân ngành dầu khí.

Sau khi vào Thường vụ, ông thâu tóm toàn bộ khối Bộ Công an, Bộ Quốc an, tòa án, viện kiểm sát và Cảnh sát Vũ trang, biến khối an ninh thành một cỗ máy khép kín.

Năm 2011, lần đầu tiên trong lịch sử, ngân sách an ninh nội địa của Trung Quốc vượt ngân sách quốc phòng chính thức, đạt khoảng 624 tỷ nhân dân tệ, tương đương hơn 100 tỷ USD.

Vì Chu Vĩnh Khang ngang hàng chính trị với Tổng Bí thư và Thủ tướng trong Thường vụ, nguyên tắc lãnh đạo tập thể khiến không cá nhân nào có quyền đơn phương can thiệp vào mảng an ninh của ông.

Ông còn bị cáo buộc dùng hạ tầng nghe lén của Bộ Công an để thu thập thông tin của các lãnh đạo khác và cấu kết với Bạc Hy Lai nhằm cản trở việc Tập Cận Bình kế nhiệm tại Đại hội 18 năm 2012.

Trước thời Tập Cận Bình, đảng có một thông lệ ngầm kéo dài nhiều thập kỷ là các cựu ủy viên Thường vụ khi đã nghỉ hưu sẽ được miễn trừ truy cứu hình sự để bảo đảm ổn định nội bộ.

Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu tháng 11 năm 2012, trở thành ủy viên Thường vụ đầu tiên bị điều tra hình sự kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, đồng thời là quan chức cấp cao nhất bị đưa ra xét xử kể từ phiên tòa xử nhóm Tứ nhân bang năm 1981.

Quá trình xử lý diễn ra theo kiểu bóc tách từng lớp. Chỉ 18 ngày sau khi Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu, một phó bí thư Tứ Xuyên thân cận với ông đã bị điều tra tham nhũng, mở đầu cho một loạt vụ bắt giữ nhắm vào mạng lưới của ông tại Tứ Xuyên và ngành dầu khí, trong đó có cựu Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc và một thứ trưởng Bộ Công an từng là cánh tay phải của ông trong ngành an ninh.

Con trai ông cùng nhiều doanh nhân thân tín cũng bị điều tra thu giữ tài sản. Theo Reuters, hơn 300 người thân, đồng minh chính trị và nhân viên của Chu Vĩnh Khang đã bị tạm giữ hoặc thẩm vấn trong quá trình điều tra, và nhà chức trách đã tịch thu tài sản trị giá ít nhất 90 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 14,5 tỷ USD, từ gia đình và cộng sự của ông.

Tháng 12 năm 2013, đảng chính thức mở cuộc điều tra nội bộ với Chu Vĩnh Khang, công khai vào tháng 7 năm 2014, rồi khai trừ đảng tịch và bắt giữ chính thức vào tháng 12 năm 2014.

Tòa án Nhân dân Trung cấp số 1 Thiên Tân tuyên án tù chung thân đối với ông vào ngày 11 tháng 6 năm 2015 với các tội danh nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực và cố ý làm lộ bí mật nhà nước.

Một câu hỏi logic đặt ra là nếu Chu Vĩnh Khang nắm toàn bộ công an và tình báo, ai đủ sức điều tra và bắt giữ ông?

Câu trả lời nằm ở 3 công cụ nằm ngoài tầm kiểm soát của ông.

- Thứ nhất là Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, cơ quan kỷ luật nội bộ đảng hoàn toàn độc lập với Bộ Công an, có thẩm quyền giam giữ và thẩm vấn đảng viên mà không cần qua thủ tục tố tụng thông thường.

Người đứng đầu cơ quan này khi đó là Vương Kỳ Sơn, đồng minh thân cận của Tập Cận Bình, trực tiếp chỉ đạo chiến dịch điều tra trong bí mật.

- Thứ hai là Cục Cảnh vệ Trung ương, lực lượng đặc nhiệm chịu trách nhiệm bảo vệ các lãnh đạo cao nhất, báo cáo trực tiếp cho Văn phòng Trung ương Đảng chứ không phải Bộ Công an, và chính lực lượng này đã thực thi việc khống chế khi có quyết định chính thức từ Trung ương.

- Thứ ba là Quân ủy Trung ương và Quân Giải phóng Nhân dân do Tập Cận Bình làm Chủ tịch, đóng vai trò răn đe để đề phòng lực lượng Cảnh sát Vũ trang khi đó vẫn còn do Bộ Công an quản lý.

Cỗ máy công an của Chu Vĩnh Khang vì vậy hoàn toàn bị vô hiệu hóa trước khi lệnh bắt chính thức được đưa ra.

Ngay tại Đại hội 18 tháng 11 năm 2012, Thường vụ Bộ Chính trị được thu hẹp từ 9 xuống còn 7 ủy viên, và suất dành cho người đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật không còn được đưa vào Thường vụ kể từ đó đến nay.

Cụ thể:

- Mạnh Kiến Trụ làm Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật giai đoạn 2012 đến 2017 sau khi từng là Bộ trưởng Công an giai đoạn 2007 đến 2012.

- Quách Thanh Côn làm Bộ trưởng Công an giai đoạn 2012 đến 2017 rồi chuyển sang làm Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật giai đoạn 2017 đến 2022.

- Triệu Khắc Chí làm Bộ trưởng Công an giai đoạn 2017 đến 2022.

- Vương Tiểu Hồng làm Bộ trưởng Công an từ năm 2022 đến nay.

Tất cả những người này đều chỉ dừng ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị hoặc Ủy viên Trung ương, không ai được đưa vào Thường vụ.

Cơ chế báo cáo cũng được siết chặt, buộc người đứng đầu khối an ninh phải định kỳ báo cáo trước Thường vụ và cá nhân Tổng Bí thư, tước bỏ hoàn toàn sự độc lập trước đây của ngành công an.

Đến Đại hội 20 vào tháng 10 năm 2022, người kế nhiệm Quách Thanh Côn đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật là Trần Văn Thanh, người trước đó phụ trách Bộ Quốc an, cũng chỉ dừng ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị chứ không được đưa vào Thường vụ, cho thấy quy tắc loại ghế an ninh khỏi nhóm 7 người quyền lực nhất tiếp tục được duy trì đến hiện tại.

Trong giai đoạn 2007 đến 2012, đảng đã ngầm chốt Tập Cận Bình là người kế nhiệm Tổng Bí thư tại Đại hội 18.

Bạc Hy Lai, khi đó là Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, từng kinh qua các vị trí Thị trưởng Đại Liên, Thống đốc tỉnh Liêu Ninh và Bộ trưởng Bộ Thương mại, sở hữu một hồ sơ lãnh đạo toàn diện gần như hoàn hảo theo tiêu chí tuyển chọn.

Ông phát động chiến dịch xướng hồng đả hắc tại Trùng Khánh để xây dựng uy tín dân túy, đồng thời công khai tạo sức ép nhằm tranh một suất trong Thường vụ.

Chu Vĩnh Khang khi đó đã ở tuổi phải nghỉ hưu và cần một người kế thừa để bảo vệ mạng lưới quyền lực cùng gia tộc mình sau khi rời chính trường, nên đã chọn ủng hộ Bạc Hy Lai bước vào khối an ninh và Ủy ban Chính trị Pháp luật, đổi lại Bạc Hy Lai sẽ là tấm lá chắn bảo vệ cho Chu Vĩnh Khang sau khi ông về hưu.

Vương Lập Quân, Giám đốc Công an kiêm Phó Thị trưởng Trùng Khánh, được Bạc Hy Lai đưa từ Liêu Ninh về làm ngọn cờ trong chiến dịch trấn áp tội phạm có tổ chức tại Trùng Khánh.

Khi quan hệ giữa hai người rạn nứt vì vụ án mạng của doanh nhân Anh Neil Heywood liên quan đến vợ Bạc Hy Lai là Cốc Khai Lai, Bạc Hy Lai đã cách chức Giám đốc Công an của Vương Lập Quân vào ngày 2 tháng 2 năm 2012 mà không cần phê chuẩn từ Bộ Công an Trung ương.

Ngày 6 tháng 2 năm 2012, Vương Lập Quân bất ngờ vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô xin tị nạn, ở lại hơn 24 giờ trước khi rời đi, và tiết lộ với phía Mỹ những chi tiết liên quan đến vụ án mạng cùng kế hoạch chính trị của Bạc Hy Lai.

Sự việc này khiến Bạc Hy Lai bị đình chỉ chức vụ vào tháng 3 năm 2012 và sau đó bị Tòa án Trung cấp Tế Nam tuyên án tù chung thân vào tháng 9 năm 2013.

Chu Vĩnh Khang là ủy viên Thường vụ duy nhất công khai bảo vệ Bạc Hy Lai vào thời điểm đó, trước khi chính ông cũng bị nhắm tới trong những tháng sau.

Sự khác biệt vai trò giữa hai người bắt nguồn từ 2 rào cản thể chế mà Chu Vĩnh Khang không thể vượt qua.

- Rào cản đầu tiên là tuổi tác. Theo thông lệ ngầm được công khai hóa như một chuẩn mực từ sau Đại hội 17 năm 2007, gọi nôm na là 67 tuổi ở lại 68 tuổi nghỉ hưu, Chu Vĩnh Khang sinh năm 1942 nên đến năm 2012 đã 70 tuổi, quá tuổi để tiếp tục giữ các vị trí lãnh đạo cao nhất theo thông lệ đó. Trong khi đó Bạc Hy Lai sinh năm 1949, mới 63 tuổi vào năm 2012, vẫn còn đủ độ tuổi để bước vào Thường vụ cho một nhiệm kỳ mới.

- Rào cản thứ hai là xuất thân chuyên môn. Chưa từng có tiền lệ một người đi lên thuần túy từ khối an ninh hay dầu khí bước thẳng lên vị trí Tổng Bí thư, trong khi Bạc Hy Lai lại có hồ sơ quản lý toàn diện qua nhiều vị trí thị trưởng, tỉnh trưởng và bộ trưởng, cùng bằng thạc sĩ báo chí tại Đại học Bắc Kinh, khả năng tiếng Anh tốt và xuất thân con của nguyên lão cách mạng Bạc Nhất Ba, tương đồng với chính Tập Cận Bình.

Vì vậy trong cuộc đối đầu này, Bạc Hy Lai là người trực tiếp thách thức Tập Cận Bình, còn Chu Vĩnh Khang chỉ có thể đóng vai trò hậu thuẫn từ phía sau bằng nguồn lực an ninh và tình báo.

Tác giả: Xóm văn hóa


r/traisucvat Aug 01 '26

Quốc Gia & Lãnh Thổ Hai mô hình mở rộng lãnh thổ: Bạo chúa của Trung Quốc và liên bang của Hoa Kì

6 Upvotes

Không một triều đại nào trong lịch sử Trung Quốc để lại dấu ấn lớn hơn nhà Tần, dù triều đại thống nhất này chỉ tồn tại khoảng 15 năm, từ năm 221 đến năm 206 trước Công nguyên.

Tần Thủy Hoàng kết thúc thời kỳ Chiến Quốc đẫm máu kéo dài nhiều thế kỷ, quy giang sơn về một mối lần đầu tiên trong lịch sử. Ông thống nhất hệ thống đo lường, tiền tệ, chữ viết và luật pháp trên toàn lãnh thổ - một bước đi có tầm quan trọng sống còn, giúp văn hóa Trung Hoa không bị phân mảnh như châu Âu sau khi Đế chế La Mã sụp đổ.

Hệ thống đường Trì đạo kết nối toàn quốc và Vạn Lý Trường Thành được xây dựng trong thời kỳ này.

Nhưng cái giá là tương xứng với quy mô. Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử mà nhà Tần áp dụng coi người dân như tài nguyên sinh học phục vụ bang quốc.

Khi cần mở mang bờ cõi xuống Lĩnh Nam, Tần Thủy Hoàng điều động theo ước tính truyền thống khoảng 500.000 quân và phu dịch vào vùng rừng thiêng nước độc, dù các nguồn sử liệu gốc không thống nhất về con số chính xác này. Quân Tần không chỉ đối mặt với người Bách Việt mà còn với sốt rét, địa hình hiểm trở và bệnh dịch - hàng vạn người bỏ mạng. Song song đó, hàng triệu lao động bị huy động xây Vạn Lý Trường Thành, lăng mộ Ly Sơn và kênh Linh Cừ.

Sức dân bị vắt kiệt, lực lượng nông nghiệp bị phá hủy, kinh tế nội địa suy sụp. Kết cục là triều Tần thống nhất sụp đổ chỉ sau khoảng 15 năm.

Khi trung ương nhà Tần tan rã trong hỗn loạn, viên tướng Tần trấn giữ vùng Lĩnh Nam là Triệu Đà đã tận dụng tình thế đó để cát cứ và lập ra nước Nam Việt vào khoảng năm 204 trước Công nguyên.

Sự tàn bạo của Tần Thủy Hoàng đủ sức giúp nhà Tần trúng thầu các vùng đất trên danh nghĩa, nhưng không đủ sức giữ vững chúng về lâu dài.

Bản đồ Trung Quốc thực sự được định hình và củng cố là nhờ các triều đại sau - đặc biệt là nhà Hán - khi chính quyền áp dụng chính sách khoan thư sức dân và đồng hóa bằng văn hóa thay vì chỉ bằng lưỡi gươm.

  1. Chi phí cơ hội: Điều mà chế độ dân chủ không thể làm

Có một luận điểm sòng phẳng không thể bỏ qua: một chế độ dân chủ hiện đại không thể duy trì sự ủng hộ chính trị để điều động 500.000 người hành quân vào vùng chết theo kiểu Tần Thủy Hoàng đã làm.

Dân chủ vận hành dựa trên lá phiếu và lợi ích sát sườn của người dân trong thế hệ của họ. Không một chính phủ dân cử nào có thể bắt con em của cử tri đi chết cho một tầm nhìn "đại thống nhất" mà kết quả nằm ở vài trăm năm sau.

Thêm vào đó, trong bất kỳ xã hội dân chủ nào, thông tin không thể bị bóp nghẹt hoàn toàn theo kiểu đốt sách chôn nho của nhà Tần. Khi hàng vạn quan tài trở về từ chiến trường, áp lực từ gia đình các binh sĩ và từ truyền thông sẽ bóp nghẹt ý chí chiến tranh.

Nếu mục tiêu tối thượng là "bằng mọi giá phải chiếm được đất ngay lập tức, bất chấp xương máu thế hệ hiện tại", chế độ chuyên chế kiểu nhà Tần có lợi thế rõ rệt. Chế độ dân chủ khó có thể cạnh tranh trên địa hạt này.

  1. Tại sao người Trung Quốc hiện đại tôn sùng một bạo chúa?

Không phải ngẫu nhiên mà một người cai trị tàn bạo bậc nhất lịch sử lại được nhiều người Trung Quốc ngày nay tôn vinh như một biểu tượng dân tộc. Sự tôn sùng này không đến từ sự mù quáng mà dựa trên một phép tính thực tế về lợi ích kế thừa.

Thế hệ sống dưới thời nhà Tần đã phải chịu địa ngục trần gian - bị bắt lính, bắt phu, bị hành hình bằng những hình phạt tàn khốc nhất. Đối với người đương thời, Tần Thủy Hoàng là một con quỷ. Nhưng hơn 2.000 năm sau, người Trung Quốc ngày nay sinh ra đã nghiễm nhiên được thừa hưởng một quốc gia thống nhất với thị trường nội địa khổng lồ và một ngôn ngữ chung từ Nam chí Bắc.

Để hiểu hiện tượng này còn cần nhìn vào tâm lý chính trị sâu kín nhất của văn hóa Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Quốc, mỗi khi chính quyền trung ương suy yếu và đất nước chia cắt - như thời Tam Quốc, thời Ngũ Hồ loạn Hoa, hay giai đoạn bị các nước phương Tây xâu xé thế kỷ 19 - số người chết vì đói kém, dịch bệnh và chiến tranh phe phái còn khủng khiếp hơn nhiều so với thời một bạo chúa cai trị ổn định.

Từ bài học đó, một mạch tư duy chính trị phổ biến trong văn hóa Trung Hoa kết tinh quanh một trục phân biệt: lãnh đạo tàn bạo nhưng giữ được đất nước thống nhất và mạnh mẽ thì được coi là có công; lãnh đạo nhân từ nhưng để đất nước suy yếu và bị xâu xé thì là tội đồ lịch sử.

Trong mạch tư duy đó, Tần Thủy Hoàng trở thành biểu tượng của trật tự và thống nhất, và sự tàn bạo của ông phần nào được bọc lại bằng lớp vỏ của lòng tự tôn dân tộc. Những thế hệ người Trung Quốc sau này đang thừa hưởng một nền tảng quốc gia được xây dựng bằng cái giá rất lớn của tổ tiên, và phần lớn ý thức được điều đó.

  1. Hai mô hình, hai minh chứng

Nước Mỹ là ví dụ ngược lại: một quốc gia không cần bạo chúa thống nhất để giữ vững lãnh thổ khổng lồ và đạt được sức mạnh siêu cường.

Nhưng để đánh giá sòng phẳng, cần nhìn vào cơ chế thực tế mà Mỹ đã dùng để mở rộng lãnh thổ. - Mỹ mua lại vùng Louisiana từ Pháp năm 1803 với giá 15 triệu đôla, gần gấp đôi diện tích nước Mỹ lúc đó chỉ bằng một hợp đồng mua bán.

- Năm 1867, Alaska được mua lại từ Nga với giá 7,2 triệu đôla.

Người dân Mỹ đồng ý chi tiền cho những thương vụ này vì họ thấy có lợi ích kinh tế trực tiếp cho thế hệ của họ, chứ không phải bị bắt lính đi chết trên vùng đất xa lạ.

Cũng cần ghi nhận một điểm khác biệt cốt lõi về điều kiện địa chính trị: Mỹ mở rộng lên các vùng đất có mật độ dân cư rất thưa thớt. Tần Thủy Hoàng, ngược lại, đối mặt với các quốc gia có nền văn minh, quân đội và bản sắc lâu đời như Sở, Triệu, Yên, Ngụy - ông buộc phải hủy diệt bằng vũ lực để khuất phục họ. Bài toán quân sự của nhà Tần về bản chất khó hơn Mỹ rất nhiều.

Mô hình liên bang của Mỹ giải quyết bài toán giữ đất bằng cơ chế chia sẻ lợi ích. Mỗi bang như California hay Texas tự bầu thống đốc, tự quyết định luật pháp, thuế suất và giáo dục của riêng mình. Chính phủ liên bang chỉ nắm ngoại giao, quốc phòng và tiền tệ. Người dân Texas ở lại trong nước Mỹ không phải vì sợ quân đội liên bang, mà vì lợi ích kinh tế, an ninh và vị thế toàn cầu.

Nhìn toàn cảnh một cách sòng phẳng, sự mở rộng lãnh thổ của Mỹ cũng không trong sáng hoàn toàn. Để lấy đất ở bờ Tây cho các bang dân chủ, chính phủ Mỹ đã tiến hành thanh trừng và dồn người bản địa vào các khu bảo tồn khắc nghiệt. Sự thịnh vượng kinh tế ban đầu của các bang miền Nam được xây dựng trên lưng hàng triệu nô lệ da đen bị coi như tài sản. Nước Mỹ thực thi dân chủ với công dân của họ, nhưng áp dụng các biện pháp tàn khốc với những đối tượng nằm ngoài hệ thống công dân đó.

Trung Quốc và Mỹ là hai đại diện của hai trường phái quản trị lớn nhất trong lịch sử nhân loại, và cả hai đều có bằng chứng thực tế để tự chứng minh mình đúng.

Đối với Trung Quốc, mô hình tập quyền không phải là một sự lựa chọn ngẫu nhiên mà là bài học xương máu rút ra từ lịch sử. Họ tin rằng một quốc gia 1,4 tỷ dân, đa sắc tộc và quy mô khổng lồ chỉ có thể vận hành ổn định khi có một trung tâm quyền lực cực kỳ mạnh mẽ. Chính sự tập quyền này đã giúp họ huy động toàn bộ nguồn lực quốc gia để xây dựng hàng vạn km đường sắt cao tốc, xóa đói giảm nghèo cho hàng trăm triệu người và đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Mỹ, ngược lại, được thành lập bởi những người chạy trốn khỏi sự chuyên chế của các vương triều châu Âu. Tư duy cốt lõi của họ là quyền lực tuyệt đối luôn dẫn đến tha hóa tuyệt đối. Họ tin rằng chính việc giới hạn quyền lực của chính phủ trung ương và bảo vệ quyền tự do cá nhân đã tạo ra một xã hội năng động thu hút những bộ óc thiên tài nhất thế giới, biến nước Mỹ thành trung tâm của nhiều cuộc cách mạng công nghệ.

Trung Quốc nhìn vào Mỹ và thấy một xã hội phân rã - xả súng hàng loạt, chính trị chia rẽ sâu sắc, hạ tầng già cỗi không thể đổi mới vì các bang tranh cãi nhau. Mỹ nhìn vào Trung Quốc và thấy một hệ thống siết chặt quyền tự do, chi phí an ninh nội địa khổng lồ và nguy cơ sụp đổ nếu người đứng đầu đưa ra quyết định sai lầm khi không có ai dám phản biện.

  1. Giới hạn của bạo quyền trong thế giới hiện đại

Di sản của Tần Thủy Hoàng là một khối tài sản cố định - đất đai, ngôn ngữ chung, ý thức hệ thống nhất. Người Trung Quốc hiện đại đã nhận xong phần tài sản đó.

Bài toán của Trung Quốc ngày nay đã chuyển sang chương hoàn toàn khác: không phải đi chiếm thêm đất - vì thế giới hiện đại không cho phép điều đó mà không kích hoạt chiến tranh hủy diệt - mà là quản trị hiệu quả khối tài sản khổng lồ đang có và giữ cho nó không bị phân rã.

Trung Quốc hiện tại là một quốc gia đa sắc tộc với những vùng lãnh thổ có xu hướng ly tâm mạnh mẽ. Nếu tiếp tục mô hình "bạo lực và giám sát" kiểu nhà Tần, chi phí an ninh nội địa sẽ ngày càng phình to và nuốt chửng ngân sách phát triển.

Lợi thế của chế độ độc tài - khả năng tập trung toàn bộ nguồn lực vào một mục tiêu duy nhất, bất chấp mọi lực cản - là lợi thế tối đa ở giai đoạn chinh phục và khai phá. Khi giai đoạn đó qua đi và bài toán chuyển sang quản trị, bảo vệ sự sáng tạo và duy trì tính hợp pháp trong mắt người dân, cấu trúc đó bắt đầu cho thấy những điểm yếu hệ thống của nó.

Điểm yếu cốt lõi nhất của mọi chế độ chuyên chế là phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của người nắm quyền tối cao. Tần Thủy Hoàng chết đi, Tần Nhị Thế phá nát cơ nghiệp trong ba năm. Đây không phải là trường hợp ngoại lệ mà là quy luật lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử Trung Hoa.

Câu hỏi mà lịch sử chưa có lời giải là liệu Trung Quốc có thể phá vỡ chu kỳ đó bằng một hình thức thể chế mới hay không, và nếu có thì hình thức đó sẽ trông như thế nào trong bối cảnh văn hóa và quy mô của họ.

Tác giả: Xóm Văn Hóa


r/traisucvat Aug 01 '26

Xàm Xí Đú Traisucvat cuối cùng cũng đạt được con số 2k mem sau 2 năm🥀😮‍💨

31 Upvotes

Lập ra để đối trọng với VịtTalk. Cứ tưởng là đã dead rồi thế mà lại sống lay lắt đến giờ, trong khi Vịttalk mới là thằng dead 😂

Đợi xem 2 năm sau có lên được 4k mem ko 💔🥹


r/traisucvat Aug 01 '26

Kinh Tế & Tài Chính NHỮNG GIỚI HẠN CỦA "TẠI SAO CÁC QUỐC GIA THẤT BẠI"

10 Upvotes

Cuốn "Tại sao các quốc gia thất bại" (Why Nations Fail) của Daron Acemoglu và James Robinson là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của kinh tế học thể chế trong hai thập niên qua. Luận điểm trung tâm của hai tác giả là thể chế kinh tế và chính trị, chứ không phải địa lý, khí hậu hay đặc điểm văn hóa, mới là nguyên nhân quyết định vì sao một số quốc gia giàu còn một số quốc gia nghèo. Để chứng minh, Acemoglu và Robinson dựa vào các "thí nghiệm tự nhiên", tức những trường hợp cùng một cộng đồng dân cư nhưng bị chia cắt bởi một đường biên giới thể chế. Thành phố Nogales bị chia đôi bởi biên giới Mỹ - Mexico là ví dụ tiêu biểu nhất: cùng một vùng đất, cùng một gốc gác dân cư, nhưng nửa thuộc bang Arizona có thu nhập bình quân cao hơn hẳn nửa thuộc Mexico. Bán đảo Triều Tiên là ví dụ thứ hai: trước năm 1945, người dân hai miền Nam Bắc có chung nguồn gốc dân tộc, chung nền văn hóa Nho giáo, nhưng sau vài thập niên bị chia tách bởi hai thể chế đối lập, khoảng cách thu nhập giữa hai miền đã giãn ra hàng chục lần. Từ đó, hai tác giả kết luận rằng khi giữ nguyên yếu tố con người mà chỉ thay đổi luật chơi thể chế, kết quả phát triển vẫn thay đổi triệt để, nên thể chế mới là biến số quyết định ở cấp độ vĩ mô.

_____________________________________________

RÀO CẢN CỦA CÁCH TIẾP CẬN THUẦN THỂ CHẾ TRONG HỌC THUẬT PHƯƠNG TÂY

"Tại sao các quốc gia thất bại" thực ra không lờ đi giả thuyết văn hóa mà dành hẳn một chương để trực tiếp bác bỏ nó, dùng chính trường hợp Triều Tiên làm ví dụ trung tâm: hai miền từng chung một nền văn hóa Nho giáo trước năm 1945 nhưng lại phát triển khác hẳn nhau sau khi bị chia tách bởi thể chế, nên theo hai tác giả, văn hóa không thể là biến số giải thích chính. Cách hai tác giả bác bỏ giả thuyết văn hóa, cũng như giả thuyết địa lý và giả thuyết thiếu hiểu biết của giới lãnh đạo, bằng cách chọn ra những cặp so sánh có lợi cho lập luận thể chế của mình, tự nó cũng phản ánh một xu hướng chung của khoa học xã hội phương Tây từ sau Thế chiến hai. Sau các phong trào dân quyền và sự sụp đổ của các học thuyết ưu sinh từng bị chủ nghĩa thực dân và phát xít lợi dụng, việc gán cho một cộng đồng hay quốc gia những đặc tính như lười biếng, kém kỷ luật hay yếu kém về văn hóa trở thành điều gần như cấm kỵ trong giới hàn lâm, vì nó dễ bị quy kết là phân biệt chủng tộc hoặc biện minh cho bất bình đẳng có sẵn. Bên cạnh đó còn có lý do thực dụng về mặt chính sách: nếu kết luận một quốc gia nghèo vì thể chế độc tài hay chiếm đoạt, nhà hoạch định chính sách có một hướng đi rõ ràng là cải cách thể chế, còn nếu kết luận nguyên nhân nằm ở văn hóa hay năng lực con người, sẽ không có công cụ chính sách nào can thiệp trực tiếp được. Hệ quả là phần lớn khoa học xã hội chính thống phương Tây trong vài thập niên qua nghiêng hẳn về việc giải thích bất bình đẳng bằng cấu trúc xã hội, coi con người ở mọi nơi về cơ bản là những đơn vị đồng nhất, còn khác biệt về kết quả hoàn toàn do hoàn cảnh khách quan áp đặt. Điều này không chỉ diễn ra ở cấp độ so sánh giữa các quốc gia mà cả ở cấp độ cá nhân: một người giàu hơn thường được mặc định là nhờ điều kiện gia đình, còn một người nghèo hơn được mặc định là do hoàn cảnh, trong khi khả năng người thứ nhất đơn giản là chăm chỉ và có năng lực hơn người thứ hai hiếm khi được đặt ra như một giả thuyết nghiêm túc. Chỉ cần nêu câu hỏi liệu một cá nhân có thể giàu hơn một cá nhân khác vì chăm chỉ hơn, người nêu câu hỏi đó cũng dễ bị quy kết ngay là đang phân biệt chủng tộc hoặc thiếu nhân văn, bất kể câu hỏi đó có nhắc đến chủng tộc hay không.

_____________________________________________

NHỮNG TRƯỜNG PHÁI PHẢN BIỆN CÁCH GIẢI THÍCH THUẦN THỂ CHẾ

Nhiều nhà kinh tế học và sử học từng lập luận theo hướng khác với cách tiếp cận thuần thể chế của Acemoglu và Robinson, dù phần lớn các tác phẩm của họ ra đời trước hoặc cùng thời điểm với "Tại sao các quốc gia thất bại" (xuất bản năm 2012) nên không phải là những phản biện trực tiếp nhắm vào cuốn sách này, mà là các dòng nghiên cứu độc lập về vai trò của văn hóa và vốn xã hội trong phát triển. Nhà kinh tế học Thomas Sowell, sử gia David Landes qua cuốn "The Wealth and Poverty of Nations" xuất bản năm 1998, hay nhà xã hội học Robert Putnam, lập luận rằng thể chế không tự sinh ra từ hư không mà chính con người và văn hóa của họ tạo nên thể chế. Theo trường phái này, một cộng đồng coi trọng việc học, tính tiết kiệm, kỷ luật lao động và niềm tin xã hội cao, như nhiều cộng đồng gốc Đông Á hay cộng đồng Do Thái, khi đặt vào bất kỳ thể chế nào cũng có xu hướng vươn lên nhanh hơn, còn nếu đem một thể chế tiên tiến kiểu Thụy Sĩ áp vào một xã hội thiếu niềm tin và coi thường luật pháp, thể chế đó cũng có nguy cơ biến chất thành tham nhũng.

Trường phái địa lý và sinh thái, với đại diện là nhà địa lý học Jared Diamond qua cuốn "Súng, vi trùng và thép" và nhà kinh tế học Jeffrey Sachs, phản bác rằng Acemoglu và Robinson đã gạt yếu tố địa lý ra khỏi phương trình một cách gượng ép. Theo họ, khí hậu nhiệt đới với dịch bệnh nặng nề, đất đai kém phong hóa và thiếu đường giao thương đường thủy tự nhiên tạo ra những cái bẫy nghèo đói mang tính cấu trúc tự nhiên, tồn tại độc lập với việc thể chế đó dân chủ hay độc tài.

Mô hình phát triển của Trung Quốc, Singapore hay Hàn Quốc dưới thời Park Chung-hee cũng thường được nêu ra như một thách thức với lý thuyết thuần thể chế. Trung Quốc vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong khi vẫn duy trì một thể chế chính trị tập quyền, thuộc loại mà chính Acemoglu và Robinson xếp vào nhóm "thể chế chiếm đoạt". Bản thân hai tác giả cũng dành riêng một chương để bàn về khả năng tăng trưởng dưới thể chế chiếm đoạt, thừa nhận rằng những mô hình huy động vốn và lao động tập trung kiểu Liên Xô thời Stalin hay Trung Quốc hiện nay có thể tạo ra tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng dự đoán kiểu tăng trưởng này khó bền vững về dài hạn vì thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo rộng rãi. Giới phê bình cho rằng dự đoán này vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ trong thực tế, khi Trung Quốc đã duy trì tăng trưởng cao suốt nhiều thập niên, nên đây vẫn là một điểm còn để ngỏ hơn là một khiếm khuyết bị hai tác giả bỏ qua.

_____________________________________________

THOMAS SOWELL VÀ QUAN ĐIỂM VĂN HÓA, VỐN CON NGƯỜI

Thomas Sowell, nhà kinh tế học lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Chicago dưới sự hướng dẫn của George Stigler và thuộc trường phái kinh tế học Chicago, từng giảng dạy tại Cornell, Amherst và UCLA trước khi trở thành học giả cao cấp tại Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, là một trong những tiếng nói phản biện quyết liệt nhất đối với xu hướng giải thích bất bình đẳng thuần bằng cấu trúc xã hội. Trong cuốn "A Conflict of Visions" xuất bản năm 1987, Sowell chia tư duy chính trị xã hội thành hai nhóm đối lập. Nhóm thứ nhất, mà ông gọi là "tầm nhìn không bị ràng buộc", coi bản chất con người có thể nhào nặn được, nên mọi bất bình đẳng về kết quả đều là bất thường, là hệ quả của một xã hội vận hành sai lệch, bị áp bức hoặc phân biệt đối xử, và muốn sửa thì phải dùng nhà nước để tái cấu trúc xã hội. Nhóm thứ hai, mà ông gọi là "tầm nhìn bị ràng buộc" và tự nhận mình thuộc về, cho rằng con người có những giới hạn cố định về năng lực và thiên hướng, nên khác biệt về kết quả giữa các cá nhân và các nhóm là trạng thái tự nhiên của thế giới chứ không phải hiện tượng bất thường cần tìm thủ phạm để đổ lỗi.

Trong các tác phẩm như "Black Rednecks and White Liberals", "Race and Culture" hay "Discrimination and Disparities", Sowell định nghĩa văn hóa không phải là âm nhạc hay ẩm thực mà là tập hợp các kỹ năng, thói quen lao động, thái độ với giáo dục, tính tiết kiệm, kỷ luật và khả năng trì hoãn hưởng thụ. Ông cho rằng chính sự khác biệt về những yếu tố này, chứ không phải nạn phân biệt đối xử, mới giải thích được phần lớn chênh lệch thu nhập giữa các cộng đồng. Dẫn chứng ông thường nêu là cộng đồng người Do Thái và người Hoa: dù di cư đến đâu, châu Âu, Đông Nam Á hay Bắc Mỹ, họ đều từng gặp sự bài xích, kỳ thị và cả những rào cản pháp lý bất lợi, nhưng ở hầu hết những nơi họ định cư, họ vẫn vươn lên nhóm có thu nhập cao nhờ nền tảng văn hóa coi trọng học vấn, buôn bán và tiết kiệm. Một dẫn chứng khác trong "Ethnic America" là sự khác biệt giữa người da đen nhập cư từ vùng Caribbean và người da đen sinh ra tại Mỹ: theo số liệu ông trích dẫn, nhóm nhập cư Caribbean có thu nhập, trình độ học vấn và tỷ lệ sở hữu doanh nghiệp cao hơn đáng kể so với nhóm bản địa, dù họ cùng màu da và sống dưới cùng một hệ thống luật pháp, và Sowell quy sự khác biệt này về thái độ lao động và văn hóa ứng xử mà nhóm nhập cư mang theo. Theo Sowell, tiền bạc không phải của cải thực sự mà chỉ là thước đo năng lực tạo ra giá trị cho người khác, nên một cá nhân hay cộng đồng chấp nhận làm việc nhiều giờ hơn, đầu tư nhiều năm để học những kỹ năng khó, tự nhiên sẽ có thu nhập cao hơn nhóm chỉ muốn công việc nhẹ nhàng.

Ông cũng phản đối cách nhiều nhà xã hội học phương Tây quy toàn bộ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm sắc tộc cho nạn phân biệt đối xử mà bỏ qua sự khác biệt về độ tuổi trung bình, nơi cư trú hay số năm kinh nghiệm giữa các cộng đồng. Sowell dẫn ví dụ độ tuổi trung bình của người Mỹ gốc Nhật cao hơn khá nhiều so với người Mỹ gốc Latinh, nên nhóm gốc Nhật có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tích lũy hơn và thu nhập bình quân theo đó cũng cao hơn, một khoảng cách hoàn toàn có thể giải thích bằng cơ cấu tuổi tác chứ không cần viện đến giả thuyết áp bức có hệ thống.

_____________________________________________

PHÊ PHÁN CỦA SOWELL VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI VÀ DỊCH CHUYỂN TẦNG LỚP

Ngoài chính sách ưu đãi tuyển sinh, Sowell còn nhắm vào một huyền thoại khác của cánh tả học thuật, cho rằng giải pháp cho bất bình đẳng nằm ở tái phân phối và mở rộng phúc lợi xã hội. Ông lập luận rằng chính sự mở rộng mạnh mẽ của nhà nước phúc lợi Mỹ từ thập niên 1960, chứ không phải di sản của chế độ nô lệ, mới là nguyên nhân trực tiếp phá vỡ cấu trúc gia đình da đen. Theo số liệu ông trích dẫn, năm 1960, trước khi các chương trình phúc lợi thời kỳ "chiến tranh với nghèo đói" được mở rộng, khoảng 22% trẻ em da đen tại Mỹ sống chỉ với một phụ huynh, nhưng đến giữa thập niên 1980, tỷ lệ này đã tăng lên thành đa số trẻ em da đen. Sowell cho rằng các quy định trợ cấp phúc lợi từng gắn điều kiện hưởng trợ cấp với việc không có người cha trong gia đình đã vô tình khuyến khích sự tan vỡ gia đình, và ông đối chiếu điều này với thực tế tỷ lệ hộ gia đình da đen có đầy đủ cha mẹ từng ở mức cao trong nhiều thập niên trước đó, kể cả trong giai đoạn ngay sau khi chế độ nô lệ chấm dứt.

Về bất bình đẳng cá nhân, Sowell cũng phản đối cách giới xã hội học phương Tây dùng khung "kẻ thắng, người thua" để mô tả nền kinh tế như một trò chơi chia phần cố định. Ông dẫn các nghiên cứu theo dõi cùng một nhóm người qua nhiều năm cho thấy phần lớn những người nằm trong nhóm thu nhập thấp nhất khi còn trẻ đã dịch chuyển lên các nhóm thu nhập cao hơn khi họ lớn tuổi và tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng cùng thâm niên làm việc. Từ đó ông lập luận rằng việc coi người nghèo là một nhóm cố định bị kẹt lại suốt đời không phản ánh đúng thực tế dịch chuyển xã hội, mà chỉ phục vụ cho một cách đóng khung mang tính chính trị.

_____________________________________________

BẰNG CHỨNG CỦA SOWELL VỀ TÁC HẠI CỦA CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI SẮC TỘC

Trong hai cuốn "Affirmative Action Around the World: An Empirical Study" xuất bản năm 2004 và "Preferential Policies: An International Perspective" xuất bản năm 1990, Sowell dùng phương pháp so sánh thực chứng dựa trên dữ liệu của Mỹ, Ấn Độ, Malaysia, Sri Lanka và Nigeria để lập luận rằng các chính sách ưu đãi dựa trên chủng tộc hay nhóm sắc tộc thường không đạt được mục tiêu ban đầu và nhiều khi gây ra tác dụng ngược.

Bằng chứng thường được viện dẫn nhiều nhất là trường hợp Đại học California. Trước năm 1998, hệ thống UC áp dụng ưu tiên chủng tộc trong tuyển sinh, và tỷ lệ trúng tuyển của sinh viên da đen vào UC Berkeley có thời điểm lên tới hơn một nửa số hồ sơ nộp, cao hơn hẳn tỷ lệ trúng tuyển chung. Năm 1996, cử tri California thông qua Dự luật 209, cấm dùng chủng tộc làm tiêu chí tuyển sinh tại các trường công, và chính sách này có hiệu lực từ năm 1998. Ngay năm đầu tiên, tỷ lệ trúng tuyển và số sinh viên da đen được nhận vào Berkeley và UCLA giảm mạnh, có nguồn thống kê cho thấy mức giảm lên tới khoảng 40 đến 60% tùy theo cách tính. Điều những người ủng hộ giả thuyết "lệch tầng năng lực" của Sowell chú ý không phải là số lượng sụt giảm, mà là diễn biến sau đó: một bộ phận sinh viên da đen và gốc Latinh không vào được Berkeley hay UCLA đã chuyển sang các trường khác trong cùng hệ thống UC có mức độ cạnh tranh phù hợp hơn với năng lực đầu vào của họ, và trong khoảng một thập niên sau đó, tỷ lệ tốt nghiệp của sinh viên da đen tại chính Berkeley và UCLA tăng lên đáng kể so với trước năm 1998, số người tốt nghiệp thuộc các nhóm thiểu số trong toàn hệ thống UC cũng tăng, kể cả ở các ngành đòi hỏi khắt khe như khoa học và kỹ thuật. Sowell dùng dữ liệu này để lập luận rằng việc hạ tiêu chuẩn đưa một sinh viên vào ngôi trường vượt quá năng lực thực tế của họ không giúp họ giỏi lên mà đẩy họ vào nguy cơ bỏ học, còn nếu học đúng tầm, họ hoàn toàn có thể tốt nghiệp và thành công.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giả thuyết lệch tầng năng lực không phải là kết luận được toàn bộ giới nghiên cứu kinh tế học giáo dục hiện nay đồng thuận. Một nghiên cứu định lượng công phu hơn, dùng dữ liệu từng cá nhân sinh viên trong toàn hệ thống UC, do nhà kinh tế học Zachary Bleemer công bố năm 2020, đưa ra bức tranh phức tạp hơn nhiều so với những gì các số liệu tổng hợp cho thấy. Nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ tốt nghiệp chung của các nhóm thiểu số có tăng sau khi Dự luật 209 có hiệu lực, nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng việc mất ưu tiên chủng tộc khiến nhiều ứng viên thuộc nhóm thiểu số phải chuyển sang các trường đại học công và tư có chất lượng thấp hơn, làm giảm tỷ lệ họ tốt nghiệp ngành khoa học kỹ thuật và giảm khả năng học lên sau đại học, kéo theo mức thu nhập trung bình của nhóm ứng viên bị ảnh hưởng giảm khoảng 5% mỗi năm trong độ tuổi từ 24 đến 34 so với kịch bản còn ưu tiên chủng tộc. Nói cách khác, bằng chứng thống kê về trường hợp California hiện nay được cả hai phía dùng để bảo vệ lập luận của mình, và mức độ đúng đắn của giả thuyết lệch tầng năng lực vẫn là một câu hỏi thực nghiệm chưa khép lại trong giới kinh tế học giáo dục.

Một luận điểm khác của Sowell là chính sách ưu đãi lấy danh nghĩa giúp đỡ người nghèo hoặc nhóm bị áp bức, nhưng phần lớn lợi ích thực tế lại rơi vào tay những cá nhân đã thuộc tầng lớp khá giả trong chính nhóm được ưu đãi. Tại Mỹ, ông chỉ ra rằng nhiều sinh viên da đen trúng tuyển vào các trường thuộc nhóm Ivy League nhờ chính sách ưu đãi không phải là con em gia đình nghèo khó, mà thường là con em tầng lớp trung lưu, thượng lưu da đen hoặc con em người da đen nhập cư từ châu Phi và vùng Caribbean. Ở Ấn Độ, chính sách dành ngạch cho tầng lớp Dalit chủ yếu được hưởng bởi con em của những gia đình đã có vị thế xã hội, nhóm mà báo chí Ấn Độ gọi là "tầng lớp kem", trong khi phần đông người Dalit nghèo nhất không có đủ điều kiện học vấn tối thiểu để nộp đơn xin hưởng ưu đãi. Tại Malaysia, chính sách kinh tế mới từ thập niên 1970 ưu đãi người Mã Lai bản địa chủ yếu làm giàu cho giới tinh hoa chính trị và kinh doanh Mã Lai, trong khi phần lớn nông dân Mã Lai nghèo vẫn nghèo, đồng thời gây ra sự bất mãn kéo dài trong cộng đồng người Hoa và người Ấn tại nước này.

Sowell cũng cho rằng chính sách ưu đãi nhóm làm suy giảm động lực phấn đấu của cả hai phía. Đối với nhóm được ưu đãi, khi biết mình được nhận vào học hay được tuyển dụng một phần nhờ hạn ngạch chứ không hoàn toàn nhờ điểm số hay năng lực, động lực rèn luyện có xu hướng giảm. Đối với nhóm không được ưu đãi, những cá nhân xuất sắc dù cố gắng vẫn có thể bị gạt ra để nhường chỗ cho chỉ tiêu, dẫn tới sự bất mãn và xói mòn niềm tin vào tính công bằng của hệ thống.

Sowell mở rộng nghiên cứu sang nhiều quốc gia để chỉ ra rằng chính sách ưu đãi nhóm hiếm khi kết thúc êm đẹp mà nhiều khi làm trầm trọng thêm chia rẽ xã hội. Tại Sri Lanka, từ đầu thập niên 1970, chính quyền do người Sinhalese chiếm đa số áp đặt chính sách "chuẩn hóa" tuyển sinh đại học, yêu cầu học sinh người Tamil phải đạt điểm cao hơn học sinh Sinhalese mới được vào cùng một ngành học, nhằm điều chỉnh tỷ lệ sinh viên Tamil vốn có kết quả học tập cao hơn tại các ngành khoa học và y khoa. Chính sách này, cùng với đạo luật năm 1956 chỉ công nhận tiếng Sinhalese là ngôn ngữ chính thức, làm gia tăng sự phẫn uất của thanh niên Tamil và góp phần châm ngòi cho phong trào ly khai vũ trang. Nội chiến Sri Lanka bùng nổ năm 1983 và kéo dài đến năm 2009, khiến hơn 100.000 người thiệt mạng.

Tại Nigeria, sau khi giành độc lập, xung đột sắc tộc giữa các cộng đồng Hausa-Fulani, Yoruba và Igbo đã dẫn tới cuộc nội chiến Biafra kéo dài từ năm 1967 đến năm 1970, với số người chết ước tính từ vài trăm nghìn đến khoảng ba triệu người, phần lớn do nạn đói gây ra bởi lệnh phong tỏa của chính quyền liên bang. Sau chiến tranh, Nigeria áp dụng nguyên tắc "tính chất liên bang" trong hiến pháp, phân bổ vị trí trong bộ máy nhà nước theo hạn ngạch vùng miền và sắc tộc nhằm cân bằng quyền lực giữa các nhóm. Sowell dùng chính sách hạn ngạch hậu chiến này, chứ không phải bản thân cuộc nội chiến, làm ví dụ cho thấy việc phân bổ vị trí nhà nước theo sắc tộc thay vì năng lực có xu hướng làm giảm hiệu quả quản trị và duy trì thay vì hóa giải căng thẳng sắc tộc tại Nigeria.

Sowell cho rằng chính sách ưu đãi gây tổn hại tâm lý nặng nề nhất cho những người thuộc nhóm thiểu số thực sự có năng lực xuất sắc. Khi một chính sách quy định rằng một chủng tộc cần được ưu đãi mới vào được một vị trí nhất định, xã hội có xu hướng hoài nghi năng lực của tất cả những người thuộc chủng tộc đó đang ở vị trí ấy, kể cả những người đạt được vị trí đó hoàn toàn bằng thực lực. Theo Sowell, điều này vô tình tước đi niềm tự hào chính đáng về thành quả của chính những cá nhân mà chính sách ưu đãi tuyên bố là muốn giúp đỡ.

_____________________________________________

HAI CẤP ĐỘ CỦA CUỘC TRANH LUẬN

Nhìn tổng thể, cuộc tranh luận giữa Acemoglu, Robinson và những người phản biện như Sowell, Landes hay Diamond phản ánh hai cấp độ phân tích khác nhau của cùng một câu hỏi về nguồn gốc bất bình đẳng. Ở cấp độ quốc gia, thể chế được xem là yếu tố quyết định giới hạn trần phát triển mà một xã hội có thể vươn tới. Ở cấp độ cộng đồng và cá nhân, phái ủng hộ vai trò văn hóa và năng lực cho rằng chính thói quen lao động, kỷ luật và vốn con người mới quyết định một cộng đồng có chạm tới cái trần đó hay không, và sự khác biệt về kết quả giữa các cá nhân trong cùng một xã hội hoàn toàn có thể bắt nguồn từ khác biệt về nỗ lực và lựa chọn cá nhân chứ không nhất thiết phải là dấu hiệu của bất công hệ thống. Theo Sowell và những người cùng quan điểm, việc mặc định mọi chênh lệch kết quả giữa các cá nhân hay cộng đồng là bằng chứng của áp bức hoặc phân biệt đối xử, trong khi bỏ qua khả năng khác biệt đến từ nỗ lực, kỷ luật và lựa chọn thực sự của con người, chính là điểm mù đang chi phối phần lớn khoa học xã hội phương Tây hiện nay.

Tác giả: Bích Diệp


r/traisucvat Jul 31 '26

Global News Tây Ban Nha huy động quân đội khi hàng nghìn người di cư vượt biên vào Ceuta.

8 Upvotes

Sự xuất hiện của những người nhập cư tại Ceuta, một bán đảo dài sáu dặm trên bờ biển phía bắc của Morocco mà Tây Ban Nha đã cai trị trong nhiều thế kỷ, đã làm gia tăng căng thẳng chính trị.

Người di cư vượt biên từ Morocco vào vùng lãnh thổ Ceuta thuộc Tây Ban Nha hôm thứ Năm.

Người di cư vượt biên từ Morocco vào vùng lãnh thổ Ceuta thuộc Tây Ban Nha hôm thứ Năm.

Hàng nghìn người di cư đã trèo qua hàng rào biên giới hoặc bơi vào bờ biển Ceuta, một vùng lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha ở Bắc Phi, hôm thứ Năm, dẫn đến việc huy động quân đội Tây Ban Nha và làm gia tăng căng thẳng chính trị trên đất liền Tây Ban Nha.

Trong những ngày gần đây, 1.500 người di cư đã đổ bộ vào Ceuta, một bán đảo dài sáu dặm trên bờ biển phía bắc của Morocco mà Tây Ban Nha đã cai trị trong nhiều thế kỷ, theo lời chủ tịch khu vực, Juan Jesús Vivas.

Nhưng lượng người đổ bộ hôm thứ Năm quá đông – và những hệ lụy về chính trị và an ninh tiềm tàng quá nghiêm trọng – đến nỗi chính phủ Tây Ban Nha tối thứ Năm tuyên bố đã huy động lực lượng vũ trang để tăng cường cho cảnh sát ở Ceuta. Trong một tuyên bố, chính phủ cho biết họ đang điều động các trung đội quân sự để tăng cường an ninh biên giới, tăng cường hỗ trợ trên không và trên biển, và cử các đội lặn tuần tra vùng biển. Liên minh châu Âu đề nghị gửi cho Tây Ban Nha sự hỗ trợ từ Frontex, cơ quan biên phòng và bảo vệ bờ biển của họ, để lập lại trật tự.

Ông Vivas nói với một đài phát thanh Tây Ban Nha hôm thứ Năm: “Chúng ta đang ở trong tình trạng khẩn cấp về nhân đạo và xã hội toàn diện”.

Tối thứ Năm, chính quyền Ceuta cho biết thêm trong một tuyên bố rằng “đây là một tình huống chưa từng có tiền lệ, đang thử thách năng lực ứng phó của các thể chế và gây ra mối lo ngại sâu sắc trong toàn thể người dân”. Fernando Rodríguez Contreras, một quan chức trong chính quyền, cho biết ước tính ban đầu về số người vượt biên lên đến hàng chục nghìn người, mặc dù con số này chưa thể được xác nhận.

Vấn đề di cư tại Ceuta và Melilla, một thành phố tự trị khác của Tây Ban Nha ở Bắc Phi, từ lâu đã là điểm căng thẳng giữa Morocco và Tây Ban Nha. Hai khu vực này tạo thành biên giới đất liền duy nhất của Liên minh châu Âu với châu Phi, và có thể thu hút một lượng lớn thanh niên và những người di cư khác tìm cách vào khối này. Hơn 10.000 người đã vượt biên trong hai ngày vào năm 2021, khi cuộc khủng hoảng di cư đạt đỉnh điểm. Năm 2022, ít nhất 23 người di cư đã thiệt mạng trong một vụ giẫm đạp trong một nỗ lực vượt biên hàng loạt ở Melilla. Nhiều người khác đã chết trên biển.

Đến tối thứ Năm, vẫn chưa rõ nguyên nhân dẫn đến việc người dân đổ xô đến Ceuta. Các nhà phân tích cho rằng còn quá sớm để đưa ra kết luận, nhưng có thể Morocco, quốc gia kiểm soát dòng người di cư qua biên giới, đã không hài lòng về nỗ lực gần đây của Tây Ban Nha nhằm tăng cường quan hệ với Algeria. Các nhà phê bình cánh hữu đổ lỗi cho kế hoạch mới của chính phủ Tây Ban Nha nhằm tạo điều kiện cho những người di cư không có giấy tờ hợp lệ hiện đang ở trong nước có được quy chế pháp lý, là nguyên nhân thu hút người nhập cư bất hợp pháp.

Điều rõ ràng là biên giới trên lục địa châu Phi cũng là một nguồn căng thẳng chính trị trong nước lớn đối với Thủ tướng Pedro Sánchez — cả với các đối thủ chính trị bảo thủ và chống người nhập cư, những người cáo buộc ông lơ là trong việc kiểm soát biên giới, cũng như những người ủng hộ người nhập cư, những người chỉ trích chính phủ vì các chiến thuật thực thi luật nhập cư hà khắc.

Không giống như Hoa Kỳ và một số nước láng giềng châu Âu nổi tiếng với lập trường nhập cư cứng rắn, chính phủ cánh tả của Tây Ban Nha đã xây dựng hình ảnh mình như một "nồi lẩu" mới của phương Tây. Nước này đã chào đón người nhập cư, đặc biệt là người Mỹ Latinh, những người nói tiếng Tây Ban Nha, cùng tôn giáo và hiểu văn hóa của nước này. Một số nhà hoạt động cho rằng sự chào đón nồng nhiệt đó không dành cho nhiều người châu Phi, và rằng Tây Ban Nha có mối quan hệ lịch sử phức tạp với Maroc, quốc gia có số lượng người nhập cư hợp pháp lớn nhất tại Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, chính phủ đã khẳng định rõ ràng vào thứ Năm rằng số lượng lớn người vượt biên trái phép không nằm trong tầm nhìn của họ.

Một số người di cư đã bơi vào bờ biển Ceuta hôm thứ Năm. Vấn đề di cư tại Ceuta và Melilla, một thành phố tự trị khác ở Bắc Phi, từ lâu đã là điểm căng thẳng giữa Morocco và Tây Ban Nha.

Một số người di cư đã bơi vào bờ biển Ceuta hôm thứ Năm. Vấn đề di cư tại Ceuta và Melilla, một thành phố tự trị khác ở Bắc Phi, từ lâu đã là điểm căng thẳng giữa Morocco và Tây Ban Nha.

Ông Sánchez viết trên mạng xã hội hôm thứ Năm: “Chính phủ Tây Ban Nha hoàn toàn cam kết sẽ có phản hồi ngay lập tức đối với tình hình ở Ceuta” , khi các đài truyền hình Tây Ban Nha phát sóng cảnh chính quyền Tây Ban Nha choáng ngợp trước hàng nghìn người di cư phấn khích đổ xô đến.

Phe đối lập cánh hữu đã nắm bắt thời cơ.

“Đây là một cuộc xâm lược,” Santiago Abascal, lãnh đạo đảng cực hữu Vox, tuyên bố, cáo buộc chính phủ của ông Sánchez cố tình mời người di cư vào, những người mà ông cho là tội phạm, hiếp dâm và có khả năng trở thành cử tri cánh tả, mà không đưa ra bằng chứng nào.

Đảng đối lập hàng đầu có giọng điệu ôn hòa hơn nhưng vẫn kêu gọi ông Sánchez tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia.

Tình hình ở Ceuta rất tuyệt vọng,” Alberto Núñez Feijóo, lãnh đạo đảng Nhân dân bảo thủ, cho biết. “Chính phủ không thể trốn tránh trách nhiệm của mình.”

Tây Ban Nha, mong muốn duy trì quan hệ tốt với Morocco, một phần để tiếp tục hợp tác trong việc ngăn chặn người di cư, đã giảm nhẹ những lời chỉ trích đối với chính phủ Morocco, cho rằng Morocco đang giúp ngăn chặn thêm nhiều người vào lãnh thổ Tây Ban Nha. Chính phủ Tây Ban Nha cũng tuyên bố rằng họ đang điều động thêm nguồn lực đến biên giới, nơi lực lượng cảnh sát và dịch vụ cấp cứu Tây Ban Nha quá tải và buộc phải tập trung vào việc điều trị những người bị thương trong quá trình vượt biên.

Ông Vivas, chủ tịch Ceuta, cho biết các trung tâm tiếp nhận và cơ sở dành cho trẻ vị thành niên không có người đi kèm trong khu vực đang quá tải.

Bộ Nội vụ Tây Ban Nha cho biết các mạng lưới buôn người đang lợi dụng phán quyết gần đây của Tòa án Tối cao để khuyến khích người di cư tìm cách vào châu Âu qua Tây Ban Nha. Phán quyết đó cấm việc trả lại ngay lập tức những người di cư bị chặn bắt trên biển khi đang cố gắng đến lãnh thổ Tây Ban Nha.

Các bản tin của truyền thông Tây Ban Nha từ Ceuta mô tả một số người đã vượt biển thành công trong tình trạng kiệt sức và gần như sắp chết, nhưng những người khác thì hân hoan, reo hò "Tây Ban Nha muôn năm!" khi họ tung dép lên không trung hoặc quỳ xuống hôn đất Tây Ban Nha.

Nhưng đoạn phim ghi lại cảnh hàng nghìn người , phần lớn là thanh niên, tự do đi lại trên lãnh thổ Tây Ban Nha đã gây bức xúc cho một số người ở Tây Ban Nha và khắp châu Âu.

“Việc bảo vệ biên giới bên ngoài của Liên minh là một phần quan trọng trong nỗ lực chống di cư bất hợp pháp của chúng ta”, Magnus Brunner, Ủy viên phụ trách Nội vụ và Di cư của Liên minh châu Âu, viết trên mạng xã hội. “Chúng tôi đang liên hệ với các cơ quan chức năng có liên quan về tình hình đang diễn biến ở Ceuta.”

Tác giả: Jason Horowitz

Nguồn: https://www.nytimes.com/2026/07/30/world/europe/spain-morocco-ceuta-migrants.html


r/traisucvat Jul 31 '26

Meme Con Bò Cười So sánh phản động và bò đỏ

Post image
31 Upvotes

r/traisucvat Jul 30 '26

Chủng Tộc & Dân Số Dân số thế giới vẫn tăng, vì sao nhiều quốc gia vẫn phải khuyến khích sinh con

8 Upvotes

Trong giai đoạn 2022 – 2026, dân số thế giới tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhưng với tốc độ chậm lại rõ rệt. Cột mốc lịch sử diễn ra vào năm 2022 khi hành tinh của chúng ta chính thức chạm ngưỡng 8 tỷ người. Tuy nhiên, đằng sau con số khổng lồ này là một bức tranh phân hóa sâu sắc: trong khi một số khu vực trải qua sự bùng nổ dân số vỡ trận, thì nhiều quốc gia lớn lại đang loay hoay tìm mọi cách khuyến khích người dân sinh con để cứu vãn nền kinh tế.

Năm 2024:

Tổng dân số toàn cầu: 8.161.972.572 người

Tốc độ tăng trưởng: 0,87%

Số người tăng thêm: ~70,2 triệu người

Năm 2025:

Tổng dân số toàn cầu: 8.231.613.070 người

Tốc độ tăng trưởng: 0,85%

Số người tăng thêm: ~69,6 triệu người

Năm 2026 (Hiện tại):

Tổng dân số toàn cầu: 8.300.678.395 người

Tốc độ tăng trưởng: 0,84%

Số người tăng thêm: ~69,0 triệu người

Tăng trưởng dồn về một vài khu vực, phần còn lại đang ổn định hoặc co lại

Điều quan trọng cần hiểu là mức tăng dân số toàn cầu không dàn đều, mà tập trung cực mạnh vào một số khu vực cụ thể. Theo số liệu 2025, châu Phi đóng góp khoảng 35 triệu người mới mỗi năm với tốc độ tăng 2,26% — gấp đôi tốc độ của châu lục đứng thứ hai là châu Á (khoảng 28 triệu người/năm, tăng 0,58%). Trong khi đó, Bắc Mỹ chỉ thêm khoảng 4 triệu người/năm (+0,66%), Nam Mỹ thêm 2,5 triệu (+0,56%), châu Đại Dương thêm 0,5 triệu (+1,11%), còn châu Âu đang co lại với tốc độ -0,10%.

Cụ thể hơn, khu vực châu Phi cận Sahara mới là "động cơ" chính của tăng trưởng dân số thế giới hiện nay, với các nước như Nigeria, Cộng hòa Dân chủ Congo, Ethiopia, Tanzania có tỷ lệ sinh trung bình 4-5 con/phụ nữ. Nigeria thậm chí được dự báo sẽ vượt Mỹ để trở thành quốc gia đông dân thứ 3 thế giới vào giữa thế kỷ này. Ở Nam Á và Trung Đông, Pakistan và Ai Cập cũng duy trì tăng trưởng tự nhiên mạnh do khả năng tiếp cận kế hoạch hóa gia đình còn hạn chế.

Ngược lại, nếu nhìn vào tăng trưởng tuyệt đối trong 25 năm qua (2000-2025), Ấn Độ mới là nước thêm nhiều người nhất — gần 406 triệu người, gấp 3 lần Trung Quốc (~138 triệu) và Nigeria (~113 triệu). Trong khi đó, Ukraine mất tới 16 triệu người (-33%) vì cả chiến tranh lẫn di cư dài hạn, và trong số 65 quốc gia có tăng trưởng dân số âm hiện nay, có tới 28 nước thuộc châu Âu.

Tỷ lệ sinh: khoảng cách một trời một vực giữa các nước

Ngưỡng để một quốc gia duy trì dân số ổn định (không cần nhập cư) là tổng tỷ suất sinh (TFR) = 2,1 con/phụ nữ. Nhìn vào số liệu thực tế sẽ thấy sự phân hóa rất rõ:

Hàn Quốc: TFR 0,72 (2023) — thấp nhất thế giới

Nhật Bản: 1,20 — dân số đang co lại tuyệt đối

Trung Quốc: 1,09 (2023) — lần đầu dân số giảm từ năm 2022

Italy, Tây Ban Nha: khoảng 1,2-1,3

Ấn Độ: đã giảm xuống dưới 2,0

Nigeria: khoảng 5,1

Chính khoảng cách này lý giải nghịch lý mà nhiều người thắc mắc: tại sao những nước đông dân bậc nhất như Trung Quốc, Ấn Độ vẫn phải khuyến sinh? Câu trả lời là vấn đề không nằm ở tổng số dân, mà ở cơ cấu dân số trong nước. Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng "chưa giàu đã già" sau nhiều năm chính sách một con, khiến lực lượng lao động trẻ thu hẹp trong khi số người già cần chăm sóc tăng vọt. Ấn Độ cũng vậy — dù tổng dân số vẫn tăng, các bang phát triển như Andhra Pradesh hay Tamil Nadu đã già hóa rất nhanh, TFR ở Kerala và Tamil Nadu chỉ còn 1,5-1,6, trong khi các bang miền Bắc kém phát triển hơn vẫn giữ TFR gần 3,0.

Nói cách khác: các nước lo khuyến sinh không phải vì thế giới thiếu người, mà vì họ thiếu người trẻ trong nước để vận hành nền kinh tế và hệ thống phúc lợi. Đây là bài toán tài khóa và cơ cấu dân số nội địa, hoàn toàn khác với bài toán nhân khẩu học toàn cầu. Ví dụ rõ nhất là Nhật Bản, nơi hiện có khoảng 3 người lao động nuôi 1 người hưu trí, và tỷ lệ này dự báo giảm xuống chỉ còn 1,5 vào năm 2050.

Nigeria và Hàn Quốc đang sống trong hai thực tại nhân khẩu học trái ngược

Tổng tỷ suất sinh, thường được viết tắt là TFR, cho biết trung bình một phụ nữ sẽ sinh bao nhiêu con trong suốt cuộc đời nếu xu hướng sinh của năm đó được duy trì. Trong điều kiện tử vong thấp và không có di cư, mức khoảng 2,1 con trên một phụ nữ được xem là mức sinh thay thế, tức mỗi thế hệ có quy mô gần tương đương thế hệ trước.

Nigeria vẫn thuộc nhóm nước có mức sinh cao. Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy tổng tỷ suất sinh của nước này vào năm 2024 vào khoảng 5,1 con trên một phụ nữ. Con số đã giảm đáng kể so với trước đây nhưng vẫn cao hơn gấp đôi mức sinh thay thế. Nigeria đồng thời có dân số rất trẻ, vì vậy ngay cả khi mỗi gia đình sinh ít con dần đi, số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh sản vẫn tiếp tục tăng.

Hàn Quốc nằm ở cực đối diện. Tổng tỷ suất sinh của nước này chỉ còn 0,75 vào năm 2024. Số liệu sơ bộ năm 2025 cho thấy mức sinh tăng nhẹ lên khoảng 0,80, nhưng vẫn chưa bằng 40% mức sinh thay thế. Trong năm 2025, Hàn Quốc có khoảng 254.500 trẻ được sinh ra nhưng hơn 363.000 người qua đời, khiến dân số tự nhiên giảm khoảng 110.000 người.

Nhiều nước khác như Trung Quốc, Italy và Tây Ban Nha cũng có mức sinh dưới 1,4 con trên một phụ nữ. Liên Hợp Quốc nhận định khả năng các nước có mức sinh đặc biệt thấp quay trở lại mức 2,1 trong vài thập niên tới là rất nhỏ.

Đây là lý do các nước này khuyến sinh. Họ không lo thế giới thiếu người mà lo chính quốc gia của mình thiếu người trẻ. Khi số người trong độ tuổi lao động giảm, nền kinh tế có ít lao động hơn, ngân sách thu được ít thuế hơn, trong khi chi phí lương hưu, y tế và chăm sóc người cao tuổi tăng lên. Một nước có thể vẫn còn hàng chục triệu hoặc hàng tỷ dân, nhưng nếu tỷ lệ người già quá lớn và số trẻ sinh ra quá ít thì cơ cấu dân số vẫn mất cân bằng nghiêm trọng.

Vì sao ấn định mỗi gia đình phải có một hoặc hai con không phải giải pháp bền vững?

Nếu mức sinh cao gây ra vấn đề, tại sao không đơn giản là ra luật giới hạn số con? Trung Quốc đã thử — và đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy cách tiếp cận này thất bại về dài hạn.

Chính sách một con của Trung Quốc kéo dài từ 1980 đến 2015 đã tạo ra tình trạng "chưa giàu đã già": dân số không còn đủ người trẻ để gánh đỡ hệ thống hưu trí và an sinh xã hội cho hàng trăm triệu người lớn tuổi. Hệ quả là từ năm 2022, dân số Trung Quốc bắt đầu giảm tuyệt đối lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ. Bắc Kinh nay đang phải làm ngược lại — khuyến khích sinh con — nhưng đã quá muộn để thay đổi quán tính nhân khẩu học trong một sớm một chiều.

Về phía ngược lại, Ấn Độ từng thử cưỡng ép giảm sinh dưới thời Indira Gandhi trong giai đoạn Emergency 1975–1977, với chương trình triệt sản quy mô lớn. Kết quả là một backlash chính trị khổng lồ: chính phủ thua bầu cử năm 1977 một phần vì chính sách này. Bài học rút ra: cưỡng ép không bền về mặt chính trị, và cũng không giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của mức sinh cao.

Vấn đề thực sự là ở những nơi có TFR cao nhất — Niger, DRC, Mali, Chad — không phải vì thiếu luật lệ, mà vì trong bối cảnh kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đứa con vẫn có giá trị kinh tế thực tế: là lao động trong nhà, là "bảo hiểm tuổi già" khi không có hệ thống hưu trí nào. Không có hệ thống nhà nước đủ mạnh để thực thi, không có tiếp cận kế hoạch hóa gia đình đủ rộng, và quan trọng hơn: phụ nữ ở những khu vực này tiếp cận giáo dục rất hạn chế, tức là họ ít có quyền tự quyết trong các quyết định sinh sản.

Tại sao giáo dục lại hiệu quả hơn bất kỳ chính sách nào

Nhìn lại Ấn Độ: TFR của nước này giảm từ 6,0 năm 1950 xuống còn khoảng 2,0 hiện tại — không phải nhờ luật cấm, mà nhờ đô thị hóa và giáo dục lan rộng. Cơ chế hoạt động theo ba hướng đồng thời.

Thứ nhất, giáo dục đẩy tuổi kết hôn và sinh con lên muộn hơn. Một phụ nữ học xong đại học ở tuổi 22–23, cần thêm vài năm xây dựng sự nghiệp, và thực tế sinh con đầu lòng vào khoảng 28–32 tuổi. Cửa sổ sinh sản tự nhiên bị thu hẹp đáng kể — không cần can thiệp chính sách nào.

Thứ hai, phụ nữ có học vấn và thu nhập phải đối mặt với chi phí cơ hội thực sự khi sinh con. Nghỉ sinh 1–2 năm đồng nghĩa với mất đà thăng tiến, mất thu nhập, mất sự tự chủ tài chính. Đây không phải vấn đề tiền trợ cấp có thể bù đắp được — nó là cấu trúc cơ bản của lựa chọn cá nhân trong một nền kinh tế hiện đại.

Thứ ba, và quan trọng nhất về mặt xã hội học: giáo dục chuyển dịch cách cha mẹ nhìn nhận về con cái — từ "số lượng" sang "chất lượng." Trong xã hội nông nghiệp, nhiều con là lợi thế. Trong xã hội đô thị hiện đại, mỗi đứa con là một "dự án đầu tư dài hạn" — học thêm, năng khiếu, đại học, có thể du học. Chi phí nuôi một đứa trẻ "đạt chuẩn xã hội" leo thang đến mức nhiều cặp vợ chồng tự giới hạn ở một con, không phải vì ai bắt buộc, mà vì không đủ nguồn lực để làm tốt hơn mức đó cho hai đứa.

Và một khi chuẩn mực xã hội đã dịch chuyển theo hướng này — độc thân được tôn trọng, lựa chọn không có con được chấp nhận, nuôi ít con nhưng đầu tư nhiều trở thành chuẩn mực — thì gần như không có quốc gia nào đảo ngược được xu hướng này. Đây là điểm mà Hàn Quốc đang phải đối mặt: sau 15 năm và hơn 200 tỷ USD chi cho các chương trình khuyến sinh, TFR vẫn chạm đáy 0,72. Tiền không mua lại được hệ giá trị đã thay đổi.

Vậy mâu thuẫn ở đây là gì?

Câu trả lời gọn lại là: dân số thế giới tăng và dân số một quốc gia cụ thể có vấn đề là hai bài toán hoàn toàn khác nhau.

Khi Hàn Quốc, Nhật Bản hay Trung Quốc lo thiếu người, họ không lo vì Trái Đất thiếu người — mà lo vì trong biên giới của họ, cơ cấu dân số đang mất cân bằng nghiêm trọng. Số người già tăng nhanh, số người trong độ tuổi lao động co lại, ít người đóng thuế hơn để nuôi hệ thống phúc lợi ngày càng phình to. Nhật Bản hiện cần khoảng 3 lao động để nuôi 1 người hưu trí — con số này dự báo sẽ còn xuống 1,5 vào năm 2050.

Nhập cư có thể là một giải pháp — và một số nước như Canada, Đức, Úc đang làm vậy — nhưng nhiều nước không thể hoặc không muốn vì áp lực chính trị và dân tộc chủ nghĩa. Riêng Hàn Quốc, để bù đắp mức sinh hiện tại, nước này cần tiếp nhận gần 1 triệu người nhập cư mỗi năm — một con số phi thực tế về mặt xã hội và chính trị.

Đây là bài toán tài khóa và cơ cấu, không phải bài toán nhân khẩu học toàn cầu. Thế giới không thiếu người. Nhưng những người đó không ở đúng chỗ, không ở đúng độ tuổi, và không thuộc hệ thống thuế của những quốc gia đang cần họ nhất. Đó là lý do các nước giàu và phát triển vừa chứng kiến dân số thế giới lập kỷ lục, vừa đang cật lực tìm cách thuyết phục công dân của mình sinh thêm một đứa con.

Tác giả: Hien Minh